Thứ Hai, 29 tháng 11, 2010

Đường tới đỉnh vinh quang

Đã từ lâu, tôi chẳng còn thiết theo dõi các vận động viên nước ta thi đấu thế nào ở các giải thể thao lớn như Asiad hay Olympic nữa.  Số môn tôi thích xem thì có vài: bóng đá, bóng chuyền, bóng bàn, thi thoảng thêm điền kinh và bơi lội - nhưng ta cứ thua nhiều hơn thắng, xem mãi cũng nản. Còn các môn như võ thì chịu: thấy các bạn vận động viên nhảy loi choi, loi choi, chả biết đánh đấm thế nào thì được điểm, thế nào thì không, chờ mãi chẳng thấy bạn nào nhảy lên mái nhà, phi trên đầu ngọn tre hay ít ra đánh cũng vù vù tiếng gió như phim chưởng nên chẳng thể nào kích cái hứng được. 

Thế cho nên cái Asiad vừa rồi tổ chức ở bên nhà bạn láng giềng môi hở răng lạnh tám hay mười sáu chữ vàng tôi không để ý lắm. Ấy thế nhưng tôi cũng biết Việt Nam đoạt được những một tấm huy chương vàng.  Thứ hạng trong bảng tổng sắp dường đâu là không khả quan lắm, kém cả những “thằng” mà ta hay nhìn nó khinh khỉnh mỗi kỳ SEA Games như Myanmar, Malaysia hay Philippines, chứ đừng nói tới vạt áo sau của các đại ca Trung, Nhật, Hàn mà ta ngỏng cổ mãi vẫn không thấy đâu. Thành tích này so với cái Đại hội thể thao châu Á trong nhà gần đây quả là một trời một vực - thật là ức chết đi được.

Kéo một đoàn vận động viên đông nhất trong lịch sử đi dự giải thể thao lớn nhất khu vực mà về được mỗi cái vàng không trong dự tính, tình trạng bi đát này khiến người ta không khỏi nháo nhào truy tìm nguyên nhân.  Báo Tuổi Trẻ gõ cửa nhà một cựu quan chức thể thao, ông này bảo thua thế là may, chứ chẳng may ta vẫn được ba hay bốn cái huy chương vàng, thì hẳn ai ai hẳn còn ung dung lắm.  Theo ông, vấn đề mấu chốt của thể thao Việt Nam, hóa ra không phải ở là thể thao đỉnh cao, mà là thể thao học đường (- nếu có cái gọi là thể thao học đường).  Rất ít trường học có sân chơi, nói gì đến sân tập thể thao; ngoài ra , cũng rất ít có chỗ để mọi người tập thể thao.

Thật ra tôi thấy ông ấy nói thế vừa đúng vừa không đúng.  Đúng ở chỗ thiếu sân chơi thể thao nói chung, nhưng sai ở chỗ ấy là phần lớn học sinh nói riêng và mọi người nói chung không chịu chơi… golf!  Sân golf ở ta thì thiếu gì, thậm chí  đây là một trong số không nhiều điều ta có thể tự hào khi so cùng thế giới: chẳng hạn theo bài này thì [số bằng phát minh sáng chế, à quên] số lượng sân golf Việt Nam có thể sẽ gần bằng Hàn Quốc, còn theo phát biểu ở đây thì [thu nhập bình quân đầu người, à không] sân golf Việt Nam nhiều gấp 10 lần bình quân thế giới. 

Với số lượng sân golf dồi dào như thế, lẽ ra môn golf nên được xác định là môn thể thao chiến lược ở Việt Nam.  Hãy phát động phong trào nhà nhà chơi golf, người người chơi golf.  Hãy tổ chức giải golf dành cho sinh viên, học sinh cấp III, II, I, mẫu giáo, nhà trẻ. Hãy trao giải thưởng Trăm golf đua nở cho tỉnh có nhiều sân golf được cấp phép nhất trong năm.  Kinh phí cho những giải thưởng này có thể vận động bà con nông dân đóng góp.  Với chiến lược đầu tư như thế, chắc chắn chẳng bao lâu nữa ta sẽ có vận động viên đoạt huy chương vàng Olympic môn golf. Ngày đó, cũng có thể là ngày ta bắt đầu nhập khẩu …gạo.

Thứ Sáu, 26 tháng 11, 2010

Andre Gide hay Bùi Giáng?


Thử đọc đoạn này trong Kẻ vô luân của Andre Gide, bản dịch của Bùi Giáng:

“…Phần nào là phần của chim ưng bởi chưng thương mẻ chuột. Phần nào là phần của trau chuốt cho lấp liếm hội đàm hồng lâu thập lý, với bích lạc thiên thai. Hoàng tuyền chẻ một ra hai? Suối vàng chín ngọn xin mài miệt mơ? Chẩm ma trầm túy căn cơ? Tầm sưu yến tuyệt xin tờ dửng dưng? Hùng tâm tiêu táp gội lừng? Niềm đau tiểu đệ xin mừng đại ca? Tiều phong kiều vũ giang hà? Rừng liêu quốc dậy giang hà cố nhân?”

Đọc đoạn này xong, ắt hẳn phần lớn chúng ta sẽ nhìn nhau bối rối: Andre Gide viết cái gì vậy? Hay, câu hỏi đúng ra phải là, Bùi thi sĩ viết cái gì vậy?

Chẳng riêng bản dịch này mà cả trong nhiều bản dịch khác, Bùi Giáng cũng dùng toàn một thứ ngôn ngữ đặc Bùi Giáng.  Chưa kể nhiều đoạn ngẫu hứng ông phóng thành thơ lục bát luôn.  Đọc bản dịch của ông, có lẽ ta cần thêm một “dịch giả” nữa để dịch từ tiếng Việt Bùi Giáng ra tiếng Việt phổ thông.  Các bản dịch của Bùi Giáng có lẽ có ích hơn để ta tìm hiểu về Bùi Giáng, chứ nếu muốn tìm hiểu về Andre Gide hay Heidegger thông qua Bùi Giáng e rằng hơi vất vả.


Thứ Năm, 25 tháng 11, 2010

Mở rộng phạm vi đấu tranh


Năm nảo năm nao đọc cái Hạt gì cơ bản  của bác gì Dơ bét do bác gì có làn da mịn màng như ^.^ trẻ con dịch, xong chỉ nhớ mỗi màn deep petting.

Năm nảy năm nay, sau mấy ngày day dứt, lôi cuốn Lanzarote mong mỏng và có vẻ ít được nhắc tới cũng của anh giai ngỗ nghịch này ra đọc, xong ấn tượng nhất màn threesome trên bờ biển của “tôi” với hai chị les người Đức.

Đầu tôi hình như lập trình để nhớ toàn những chi tiết như vậy.

Đùa chứ, cuốn Lanzarote này gọn ghẽ nhưng không kém phần chói lòa, nhiều chủ đề trong này hình như được triển khai chi tiết hơn trong các tiểu thuyết khác, nhưng đại khái cũng đủ mùi tình dục, nhân bản vô tính, fringe religion (tôn giáo bên lề? hay tôn giáo cực đoan?) và nổi trội hơn là sự bế tắc trong đời sống tinh thần  - chủ đề quen thuộc của anh giai này thì phải. Trong cuốn này có một câu đại ý, hoàn toàn có thể sống mà không mong đợi gì ở cuộc đời.

Cái bọn Tây đúng thật  suy đồi, no cơm ấm cật rững mỡ đâm nghĩ ra đủ trò kỳ dị, tâm tư kỳ quái, hành tung kỳ quặc.  Cứ đày chúng sang xứ mà ai cũng biết là xứ nào đấy cho lội nước năm tiếng đồng hồ chiều mưa tan sở, chạy trường cho con vào lớp một, thỉnh thoảng cho vào ATM giật phát là tỉnh ngộ, nhận ra ngay người ta mong đợi gì ở cuộc đời.

Btw, có người mới tặng cuốn Whatever của cùng bác này, lật qua lật lại một hồi mới biết chính là Mở rộng phạm vi đấu tranh, chả hiểu sao bọn Mẽo phóng thành Whatever.  Dịch thế này hẳn đồng chí Dâu Tây sẽ phản đối kịch liệt:)

À quên, nói thêm, văn nhân nước mình có bác cũng sắp so được với Houellebecq, ít ra về khoản tình dục, và bị ném đá, nếu sách của bác ấy được in ra.  Khiếp, sách gì toàn chữ với chữ, xuống dòng cũng không có, thương nhau thế bằng mười hại nhau, may mà có mấy đoạn erotic cứu vãn:)




Thứ Tư, 24 tháng 11, 2010

Cũ, sến, nhưng đáng yêu:)

Em Có Biết


Em có biết ta một ngày đông lạnh
Co ro trên ghế ngồi
Con chim sẻ xù lông đón nắng
Tách cà phê bốc khói
Điếu thuốc ngượng ngùng ngọ ngoạy trên môi

Em có biết ta một ngày đông lạnh
Lang thang trên phố không người
Cô gái thạch cao cười qua tủ kính
Trái đất này băng giá - chỉ em thôi!

Em có biết ta một ngày đông lạnh
Con gấu tìm hang trú qua mùa đông
Ta chết cóng ngoài vòng tay một người quen xa lạ
Hồn lắt lay một đóa môi hồng.

Noel 1993 






Thứ Bảy, 20 tháng 11, 2010

Đồng phục tinh thần và mélodrame



Nhân đọc lại Thiên sứ của Phạm Thị Hoài bản giấy in đen thui của NXB Trẻ 1989 mượn của chị So, copy & paste một đoạn cho nó khoan khoái cái cuối tuần
-----------------------------

“Ruồi trâu” không làm tôi xúc động, tôi từ chối các trò ú tim săn đuổi, những bí mật nửa kín nửa hở, những hồi hộp lên dây cót sẵn, những khung cảnh tạo dựng để thi thố một vài phẩm chất không cố định của con người, như lòng dũng cảm-hèn nhát, đức cao thượng-đê tiện... xoay xung quanh một người đàn ông và một người đàn bà, Đó không phải một tác phẩm chân thực, âu cũng là một dạng cổ tích viết tồi, dẫu dài hơn mọi chuyện cổ tích tôi từng biết.

“Thép đã tôi thế đấy” còn thiếu chân thực hơn. Có lẽ không phải lỗi ở người viết. Ông ta thực lòng tin một câu chuyện giả, và thuyết phục không ít kẻ tin theo. Cái tên sách, cũng như anh chàng Pavel, gợi cảm giác xa lánh nơi tôi, như xa lánh hết thảy những gì tỏ ra mạnh mẽ mà không cuồng dại. Lời tuyên bố của anh ta về cái chết; “... để đến khi nhắm mắt xuôi tay, khỏi thấy mình sống hoài sống phí...” đã sổ một nét tàn nhẫn phân cách đời sống và cõi bên kia, đặt một câu hỏi vô lí về ý nghĩa cuộc đời. Phải, ý nghĩa cuộc sống, chính tôi cũng không ngừng băn khoăn về nó trong vòng luẩn quẩn của bốn trăm ô vuông nâu và một khuôn hình chữ nhật biến ảo, nhưng làm sao có thể đặt một câu hỏi choáng ngợp, thậm chí che lấp cả bản thân sự sống như thế. Anh ta hẳn không bao giờ biết tới những thiên sứ pha lê vụt đến, vụt đi, ban phát và trao tặng không hỏi vì sao, bí ẩn và mỏng manh như bé Hon của tôi.

Hai cuốn sách quyết định bộ mặt tinh thần của cả một thế hệ. Con đẻ của thế hệ ấy, không thành những Ruồi Trâu thì thành Pavel Kortshagin, đi dứng, nói năng, tư duy, sống và yêu đương trong bộ đồng phục tinh thần may sẵn, hiệu Voynich hay Ostrovsky. Có vài mẩu tinh thần khác phụ thêm, tạo cảm giác nào đó như thể phong phú và sinh động trong khuôn khổ, đại loại “Jane Eyre”, mélodrame lâm li hậu hĩnh, “Nam tước Phôn Gôn-rinh”, mélodrame lâm li không hậu hĩnh cho lắm, hay Pautovsky – Bông hồng vàng, mélodrame ngọt ngào cố tỏ vẻ anti-mélodrame thông tục.

Tôi khước từ thế hệ ấy, không chỉ bằng lễ rửa tội vĩ đại năm mười bốn tuổi. Tôi khước từ quan hệ họ hàng với những nhân vật xa lạ kia, khước từ những sản phẩm confection may hoàng loạt.

Có những thế hệ may mắn – hoặc bất hạnh hơn, ai biết? – ra đời trong những đồng phục tinh thần khác. Có lẽ bố mẹ tôi đã lớn lên với Scholochov, Balzac, hay các “Tiểu thuyết thứ bảy” và “Tự lực văn đoàn” nào đó. Baudelaire, Lermontov, Tschechov, hết thảy người Nga và người Pháp. Nếu buộc lòng phải chọn một mô hình nào đó, tôi cầu chúc cho các thế hệ sau một hành trình văn hóa dài hơi hơn. Đừng bỏ quên mảnh đất nào trên địa cầu, nhất đừng quên mảnh đất ngay dưới chân mình.

Tôi từ chối không đứng vào bất kì thế hệ nào. Tôi từ chối bất kì bộ đồng phục quá chật hoặc quá rộng nào. Hãy để tôi trần truồng với cơ thể còm nhom sớm đình tăng trưởng của tôi.

[Trích Thiên sứ - Phạm Thị Hoài]