Hiển thị các bài đăng có nhãn writing. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn writing. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 18 tháng 12, 2015

Nghe gió hát

Nghe gió hát tức là Hear the Wind Sing, tiểu thuyết đầu tay của Murakami.

Hôm nọ đi công tác, họp hành túi bụi chẳng có thời gian chui vào bất cứ tiệm sách nào. Thường, mỗi khi đến một thành phố, tôi hay bỏ ra môt buổi đi lang thang, chủ yếu ngắm sách chứ dạo về sau không mua mấy, vì nhà cửa chật chội quá rồi. Lần này, bận, nên mãi khi ra sân bay có mới có chút thời gian ngơi. Ghé một tiệm, tính kiếm cuốn The Sympathizer mà không có, mắt lại va phải cuốn của Murakami, đúng ra là hai cuốn, Hear the Wind SingPinball in chung theo kiểu ngược xuôi, mặt này là Hear the Wind Sing, lật mặt kia là Pinball. Sách in đẹp quá, cầm lòng không đậu, đành mua, mặc dù sách ở Sin, đặc biệt tại sân bay, khá đắt. Cùng cuốn ấy nếu nhập về bán tại Fahasa bao giờ cũng rẻ hơn. (Hiện tại Fahasa Nguyễn Huệ đang bán một loạt sách Picador Classic, in rất đẹp, giá chỉ 150 nghìn/ cuốn; rẻ hơn sách nội.)

Hear the Wind Sing là cuốn đầu tay của Murakami. Nội dung như thế nào thì giờ quên mất rồi, nhưng đại khái nhớ chàng viết đơn giản, không chiêu trò màu mè, đọc xong  còn nhiều dư vị. Pinball thì chán hơn nhiều, vì chàng bắt đầu giở trò, những là ngủ với chị em sinh đôi, vừa làm tình vừa nghe Handel và trích dẫn Kant, cùng những tổ chức lễ tang cho một cái bảng công tắc gì đấy. Nói chung là nhảm.

Nhớ nhất từ Hear the Wind Sing, tuy vậy, không phải là câu chuyện hay nhân vật nào, mà chuyện Murakami kể mình đã tìm kiếm phong cách viết văn như thế nào. Đại khái Murakami kể mình viết xong cuốn đầu tay, đọc lại tự thấy chán quá, vì thấy mình viết nhang nhác các nhà văn Nhật khác, thế là chàng vứt, viết lại từ đầu. Lần này, chàng nảy ra ý viết bằng tiếng Anh. Mà tiếng Anh của chàng chỉ ở trình vừa phải, nên chàng chỉ sử dụng những từ đơn giản, viết câu ngắn, không dùng từ hoa hòe hay đặt câu dây cà dây muống. Được vài chương, chàng nhận ra mình  có thể để diễn đạt được điều mình muốn nói bằng những từ và câu đơn giản, vậy tại sao không làm y như vậy bằng tiếng Nhật. Thế là chàng lóc cóc dịch ngược những chương đã viết ra tiếng Nhật, rồi viết tiếp cho xong, thành Hear the Wind Sing. Chàng nhận ra mình đã tìm được phong cách viết cho mình, khác biệt với các tác giả Nhật khác.

Có lẽ vì vậy mà, nghe đồn rằng, dịch tiểu thuyết của Murakami ra tiếng Anh khá dễ dàng, vì ông cố tình viết đơn giản, mà cũng còn vì có thể ông tư duy bằng tiếng Anh.

Thứ Năm, 8 tháng 12, 2011

Nhân dịp không ăn trưa

Trưa nay nhân dịp không ăn gì tôi dịch bài này chơi. Thật ra đây là đoạn cuối trong bài "How I Write" của Umberto Eco, trong cuốn On Literature (xem bìa sách bên dưới), do Martin McLaughlin dịch từ tiếng Ý. Phần đầu của bài viết dài này các bác Tienve đã dịch, nhưng mãi chưa thấy các bác ấy dịch đoạn cuối, chắc vì các bác ấy bận ăn trưa chứ không nhịn ăn như tôi. :)



NIỀM VUI VÀ NỖI BUỒN

Tôi không còn gì khác để nói về cách tôi viết tiểu thuyết. Ngoại trừ việc viết chúng phải mất nhiều năm trời. Tôi không hiểu được những ai viết một năm một cuốn tiểu thuyết;  có thể họ tuyệt vời, và tôi thực sự ngưỡng mộ họ, nhưng tôi không ganh tị với họ. Vẻ đẹp của viết một tiểu thuyết không phải là vẻ đẹp của trận đấu phát trực tiếp, nó là vẻ đẹp của việc phát chậm.

Tôi luôn luôn bực mình khi tôi nhận ra một trong các cuốn tiểu thuyết của tôi đi đến đoạn kết, tức là, theo logic nội tại của nó đã đến lúc nó (anh ta/cô ta) ngừng lại, và tôi cũng ngừng lại; khi tôi để ý rằng nếu mà tôi kéo thêm chút nào nữa thì nó chỉ có tệ hơn. Vẻ đẹp, niềm vui thực sự, là sống sáu, bảy, tám năm trời (lý tưởng là mãi mãi) trong một thế giới mà bạn sáng tạo từng tí một, và thế giới đó đã trở thành của riêng bạn.

Nỗi buồn bắt đầu khi cuốn tiểu thuyết kết thúc.

Đây là lý do duy nhất khiến bạn muốn ngay lập tức viết một cuốn khác.  Nhưng nếu nó không sẵn đó chờ đợi bạn, thì cố hấp tấp cũng chẳng có ích gì.

NGƯỜI VIẾT VÀ NGƯỜI ĐỌC

Tuy nhiên tôi không muốn những lời cuối cùng này lại tự động đẻ ra một quan điểm khác vốn phổ biến đối với những người viết tồi - đó là người ta chỉ viết cho bản thân mình. Đừng tin những người nói như vậy: họ những kẻ tự yêu mình không lương  thiện và dối trá.

Có một thứ duy nhất mà người ta viết cho mình, và đó là cái danh mục đi chợ. Nó giúp bạn nhớ mình phải mua thứ gì, và lúc mua xong mọi thứ rồi bạn có thể hủy nó đi, bởi vì nó chẳng có ích cho ai khác. Mọi thứ khác bạn viết, bạn viết để nói điều gì đó với ai đó.

Tôi thường tự hỏi mình: liệu ngày hôm nay tôi có còn viết không nếu người ta bảo tôi ngày mai một thảm họa vũ trụ sẽ phá hủy cả thế giới, nên ngày mai sẽ không ai đọc những gì tôi viết hôm nay?

Bản năng đầu tiên của tôi là trả lời không.  Sao phải viết nếu không có ai đọc tôi? Bản năng thứ hai của tôi là nói có, nhưng chỉ vì tôi ấp ủ hy vọng mỏng manh rằng, trong thảm họa thiên hà đó, một ngôi sao nào đó biết đâu sẽ sống sót, và trong tương lai ai đó có thể giải mã những dấu hiệu của tôi. Trong trường hợp đó, viết, ngay cả trên rìa ngày tận thế, vẫn còn có ý nghĩa.

Người ta viết chỉ vì có người đọc.  Người nào nói rằng anh ta chỉ viết cho mình thì không hẳn là nói xạo. Mỗi tội anh ta vô thần một cách đáng sợ. Ngay cả từ một quan điểm thế tục nghiêm khắc.

Bất hạnh và khốn khổ thay cho người viết nào không thể giao cảm với một người đọc tương lai.

Thứ Ba, 13 tháng 9, 2011

Hội An - demo; hội nghị - một nhát

Tôi mới đi Hội An về. Tôi muốn viết chút gì đó về Hội An.  Đoạn đầu có thể như sau:



Tôi trở lại Hội An sau bảy năm.

Tôi chợt nhận ra tôi hay bắt đầu các bài viết của mình bằng cách rọi về một kỷ niệm trong quá khứ. Nói một cách tuyệt đối, chỉ trẻ sơ sinh mới không có quá khứ, còn bắt đầu biết ăn biết đi rồi biết nói là đã bắt đầu có quá khứ rồi, cho dù ta có ý thức về nó hay chăng nữa. Càng lớn tuổi quá khứ càng chất chồng, thế nên người trẻ bao nhiêu đời vẫn hóng người già kể chuyện xưa. Còn ông bà bố mẹ mở miệng ra nhắc nhở con cháu là ngày xưa bố thế này, ngày xưa ông thế kia; bạn bè lâu ngày gặp nhau không khỏi hàn huyên chuyện cũ. Ai có sống vội sống vàng cho mấy, có ưa bàn chuyện tương lai năm mười năm sau, vẫn không thể không hoài niệm. Nên giả có một ngày quay lưng lại thấy sau lưng trống hoác, tịnh không chút kỷ niệm nào, thì người lại giật mình “bơ vơ như trẻ sơ sinh”

Đoạn trong ngoặc kép dĩ nhiên là của người khác, là ai tôi nói sau, cho nó hấp dẫn kiểu truyện Tàu hạ hồi phân giải.

-------

Có thể là như thế. Vài ngày nữa xem có viết được gì nối vào sẽ post tiếp, còn không thì thôi!

Hồi học đại học, tôi có trót tham gia một cái câu lạc bộ gọi là câu lạc bộ sáng tác cấp trường. Đại khái những ai có một bài thơ hay đoạn văn đăng trên cái báo tường của trường đều có thể tham gia câu lạc bộ này. Một hôm câu lạc bộ họp phiên toàn thể, có một bạn "bức xúc" thế này: Ở đây (tức ở trong trường) tù túng quá (tù túng thật, trường tôi ngày ấy giống cái nhà kho) không sáng tác được.  Đề nghị ban chủ nhiệm phải tổ chức đi dã ngoại để lấy cảm hứng sáng tác.  Tôi nghe đến đấy, đang ăn miếng bánh thì suýt sặc, bèn chuồn ra ngoài đi uống bia lên cơn với mấy thằng bạn thối đang ngồi nhậu ở cạnh bên cồng trường. Tôi đọc thơ cho chúng nó, uống bia, còn chúng nó đương nhiên nghe thơ và trả tiền.

Mấy ngày đi chơi vừa rồi, tôi ít vào mạng, ít đọc báo. Nhìn thoáng qua FB, thấy các bạn lao xao về hội nghị nhà văn trẻ đang diễn ra, tôi có liếc qua vài link, thấy có vài nhà văn trẻ đề xuất phải tổ chức trại sáng tác, rồi gì gì ấy. Dù đang không ăn gì, tôi vẫn suýt sặc, hệt như lần nghe bạn gì ngày xưa trong cái câu lạc bộ sáng tác còm cõi của trường phát biểu.  

Sao nhiều nhà sáng tác cứ thích nghĩ như thể nhỉ? Viết, cũng như masturbation, là thứ người ta chỉ có thể làm một mình. Một số nhà hay tuyên bố tôi cô đơn/độc khi sáng tạo tôi sáng tạo khi cô đơn/độc, nghe rất cliche, nhưng quả thực viết chưa bao giờ là hành vi hội hè đình đám. Người ta có thể gặp gỡ, trao đổi với nhau, có thể orgy, nhưng lúc viết thì phải ngồi một mình sau một cánh cửa đóng. 

Hic, có thể tôi to mồm, vì tôi chưa thực sự viết bao giờ, nhưng tôi tin như thế.  

Thứ Ba, 10 tháng 5, 2011

Carver trả lời phỏng vấn



Tiếp tục chuyên đề Carver, dưới đây là trích đoạn Carver trả lời phỏng vấn The Paris Review:


PV:  Vậy những câu chuyện của ông xuất phát từ đâu? Tôi đặc biệt muốn hỏi tới những truyện ít nhiều có liên quan đến uống rượu?

Carver: Loại văn chương tôi quan tâm nhất có là loại có tham chiếu đến thế giới thực. Dĩ nhiên, không câu chuyện nào của tôi thực sự diễn ra. Nhưng luôn có cái gì đó, thành tố nào đó, điều gì tôi nghe được hay chứng kiến, đó có thể là chỗ khởi đầu. Đây là một ví dụ: “Đó là Giáng sinh cuối cùng mà anh còn có bao giờ phá hỏng!” Tôi nghe câu nói đó khi say, nhưng tôi nhớ. Và sau này, mãi về sau này, khi tỉnh, chỉ dùng mỗi câu nói đó và những điều khác mà tôi tưởng tượng, tưởng tượng chính xác đến nỗi chúng có lẽ đã diễn ra, tôi dựng thành một truyện - “Một cuộc nói chuyện nghiêm túc.”   Nhưng loại văn mà tôi quan tâm hơn cả, cho dù đó là văn của Tolstoy, Chekhov, Barry Hannah, Richard Ford, Hemingway, Isaac Babel, Ann Beattie, hay Anne Tyler, là loại khiến tôi có cảm tưởng trong chừng mực nào đó nó là tự truyện. Ít nhất thì nó có dẫn chiếu. Dù dài hay ngắn, truyện không sinh ra từ không khí loãng. Tôi nhớ một cuộc trò chuyện có mặt John Cheever. Chúng tôi ngồi quanh bàn cùng vài người nữa ở Iowa City và ông chợt bình luận rằng sau một trận cãi cọ tưng bừng ở nhà ông tối nọ, sáng hôm sau ông dậy vào nhà tắm để tìm gì đó thì thấy con gái ông đã viết lên gương bằng son môi “Ba ơ-ơ-i, đừng bỏ tụi con.”  Ai đó ở bàn lên tiếng nói, “Tôi nhận ra tình tiết này trong một trong những truyện của ông.” Cheever nói, “Chắc vậy. Mọi thứ tôi viết đều là tự truyện.”  Dĩ nhiên điều đó không đúng về nghĩa đen. Nhưng mọi thứ ta viết, trong chừng mực nào đó, đều có tính tự truyện. Tôi không hề phiền lòng với văn hư cấu “tự truyện.”  Ngược lại là đằng khác.  Trên đường. Celine. Roth. Lawrence Durrell trong Bộ tứ tiểu thuyết Alexandria. Rất nhiều bóng dáng Hemingway trong những truyện về Nick Adam.  Cả Updike nữa, tôi chắc thế. Jim McConkey. Clark Blaise là nhà văn đương đại mà văn hư cấu của ông là tự truyện một trăm phần trăm.  Dĩ nhiên, bạn phải biết bạn đang làm gì khi bạn biến chuyện đời bạn thành văn chương. Bạn phải cực kỳ can đảm, rất khéo, giàu óc tưởng tượng và sẵn lòng kể mọi thứ về bản thân. Bao nhiêu lần bạn đã được nghe bảo rằng khi còn trẻ bạn hãy viết về những thứ bạn biết, mà bạn biết gì rõ hơn ngoài những bí mật của chính bạn. Nhưng trừ khi bạn là một nhà văn ưu hạng, một tay rất cừ khôi, thật nguy hiểm khi cứ viết hết cuốn này đến cuốn nọ về Chuyện Đời Tôi.  Một mối nguy lớn, hay ít ra là một quyến rũ lớn, đối với nhiều nhà văn là tự truyện quá mức trong cách tiếp cận văn chương hư cấu của họ. Tốt nhất là một ít tự truyện và thật nhiều tưởng tượng.

PV: Thói quen viết của ông như thế nào? Có phải lúc nào ông cũng viết truyện?

Carver: Khi viết được, tôi viết hằng ngày. Thật dễ chịu khi điều này xảy ra. Một ngày vắt sang ngày kế. Đôi khi thậm chí tôi không biết thứ trong tuần. John Ashbery gọi đó là “những ngày guồng quay”. Khi không viết, như hiện giờ, khi tôi bận rộn với công việc giảng dạy như thời gian qua, tôi thấy cứ như thể là tôi chưa bao giờ viết ra một chữ nào hay chưa bao giờ có khát khao viết. Tôi sa vào những thói quen xấu. Tôi thức khuya và ngủ nướng thật lâu. Nhưng cũng được. Tôi học cách kiên nhẫn và đợi thời cơ.  Tôi đã phải học điều đó từ rất lâu rồi. Kiên nhẫn. Nếu tôi tin vào cung, tôi ngờ rằng cung của tôi phải là cung con rùa. Tôi viết túc tắc. Nhưng khi viết, tôi dành nhiều thời gian ở bên bàn viết, mười, mười hai, mười lăm giờ liền tù tì, ngày này sang ngày nọ. Tôi thích như vậy, khi chuyện đó diễn ra. Hầu hết thời gian làm việc này, phải hiểu là, dành cho sửa chữa và viết lại. Không nhiều thứ làm tôi khoái hơn việc cầm truyện đi lòng vòng quanh nhà một lúc rồi sửa đi sửa lại. Tôi làm thơ cũng y như vậy. Tôi chẳng vội vàng gì gửi bài đi ngay sau khi viết, và đôi khi tôi giữ nó ở nhà hàng tháng vầy vọc nó, thêm chỗ này bớt chỗ kia. Viết bản thảo đầu tiên của một truyện chẳng lâu lắm, thường chỉ ngồi một buổi là xong, nhưng sữa chữa các bản khác nhau của một truyện thì mất kha khá thời gian. Tôi sửa chữa cỡ chừng hai mươi đến ba mươi bản thảo cho một truyện. Không bao giờ ít hơn mười hay mười hai bản thảo. Ta vừa học hỏi được nhiều vừa được khích lệ tinh thần khi nhìn những bản thảo đầu tiên của các nhà văn lớn.  Tôi nghĩ tới những bức ảnh về những bản in thử của Tolstoy, ví dụ về một nhà văn thích sửa chữa bản thảo. Ý tôi là, tôi không biết ông có thích làm vậy không, nhưng ông sửa chữa rất nhiều. Ông luôn luôn sửa chữa, ngay từ lúc là bản in thử trang. Ông đọc và viết lại Chiến tranh và Hòa bình tám lần và vẫn còn tiếp tục sửa chữa ở nhà in. Những chuyện thế này hẳn khích lệ mọi nhà văn mà bản thảo đầu tiên kinh khủng, như của tôi.

Thứ Sáu, 6 tháng 5, 2011

Linh tinh viết (không phải viết linh tinh)



Chui qua nhà NL thấy cái này, không phải bạn NL viết, mà là ông nào cũng chả biết là ông nào, bình luận tại sao Jonathan Franzen sẽ không bao giờ viết được một cuốn sách khác đáng đọc.  Franzen là tác giả hai cuốn tiểu thuyết bán chạy đồng thời được  các nhà phê bình cũng đánh giá cao Freedom The Corrections. Ông này, tên là Scott Esposito, phát biểu thế khi đọc thấy Franzen  trả lời trong một lần phỏng vấn rằng Franzen viết tiểu thuyết đặc biệt dành cho người đọc hôm nay, bởi vì ông biết ông ấy phải giành giật người đọc với đầu máy và trò chơi video.  Scott Esposito bình rằng người ta không thể nào sáng tạo ra nghệ thuật bằng cách cố qua mặt văn hóa đại chúng trên sân chơi của nó. 


***
Chủ đề nhà văn viết cho người đọc nào là một chủ đề khá thú vị.  Tôi đoán các nhà văn nghiêm túc đều có một đối tượng độc giả nhất định trong đầu khi viết, cho dù đó là độc giả có thực hay độc giả lý tưởng.  Trong bài Nhà văn viết cho ai? Pamuk trả lời ông viết cho cái thiểu số những người đọc văn chương trên toàn thế giới.   Độc giả lý tưởng của John Updike là một cậu thiếu niên ở một thị trấn nhỏ miền trung tây nước Mỹ tìm thấy sách của ông trên kệ sách thư viện.  John Cheerver viết cho tầng lớp độc giả trưởng thành và thông minh.  Còn Raymond Carver, ngoài việc mong muốn độc giả của mình là những người đọc tử tế, còn viết cho những nhà văn đã chết mà ông ngưỡng mộ và những nhà văn đang sống mà ông thích đọc, vì nếu những nhà văn đó thích tác phẩm của ông thì rất có thể những độc giả thông minh cũng thích.


***
Tôi rất tò mò muốn có lần phỏng vấn các nhà văn Việt Nam xem thử khi viết họ nghĩ rằng họ đang hướng tới đối tượng độc giả nào. Nhưng đừng nói là "viết cho chính mình" (thì giấu vào tủ ấy, phô ra làm gì)  hay "viết để giải tỏa" (khiếp nhất, cứ như không giải tỏa được thì sẽ vỡ bụng) nhé.


PSEntry này được viết cho các nhà văn có đọc blog này:)

Thứ Năm, 9 tháng 9, 2010

Ghi chú trong tiểu thuyết

Tôi chưa đọc tác phẩm nào trong số các tác phẩm đọat giải tuổi Văn học tuổi 20 năm nay.  Có vẻ như lần này có khá nhiều tiểu thuyết đoạt giải.  Tôi luôn quan tâm đến tiểu thuyết hơn truyện ngắn nên có lẽ sẽ kiếm vài cuốn đọc thử.

Trong trao đổi trực tuyến với độc giả, có người hỏi Mai Anh Tuấn - tác giả một trong những tác phẩm đoạt giải về việc sử dụng ghi chú trong tác phẩm của anh.  Anh đã trả lời như sau: Quả thật khi viết Giảng đường yêu dấu tôi đã muốn lạ hóa cách viết bằng việc đưa vào các ghi chú. Thông thường, các ghi chú chỉ xuất hiện trong văn bản phi hư cấu (non fiction). Nhưng tôi cố tình đưa ghi chú vào một văn bản hư cấu nhằm muốn có một sự hỗn dung thể loại. Các ghi chú được tôi triển khai theo nhiều dạng khác nhau: khi là dạng báo chí, khi dạng chính luận, khi dạng từ điển, nhật ký, kịch bản... Điều đó sẽ mở rộng ra những phạm vi hiện thực khác nhau cũng như những ý vị khác nhau.

Không rõ Mai Anh Tuấn học được ý tưởng về sử dụng ghi chú trong tiểu thuyết từ đâu.

Trong Oracle Night, Paul Auster sử dụng triệt để các ghi chú để mở rộng câu chuyện.  Sau này, khi trả lời phỏng vấn The Paris Review,  ông xác nhận việc sử dụng ghi chú trong tiểu thuyết cũng không phải là phát kiến của ông.  Tuy nhiên, trong tiểu thuyết đó, do câu chuyện chính diễn ra trong hiện tại, giới hạn trong những sự kiện diễn ra trong vòng hai tuần, nên ông không muốn ngắt mạch truyện.  Ông dùng các ghi chú để kể lại những chuyện diễn ra trong quá khứ.

Tôi chưa có dịp đọc các tiểu thuyết khác sử dụng ghi chú như một kỹ thuật kể chuyện.  Tuy nhiên, chắc chắn là có, vì như Paul Auster đã nói, đó không phải là ý tưởng do ông tự nghĩ ra.

Thứ Tư, 28 tháng 7, 2010

Mười phút trước khi vào lớp

Dạo này nhận thêm project mới ở công ty nên bận hơi nhiều, khả năng sẽ khó viết cái gì dài dài. Có lẽ bắt chước bác Quốc Bảo mỗi ngày viết vài dòng ngăn ngắn.

Mười phút nữa phải vào môt lớp training hết cả ngày. Vẫn nghĩ về việc nhà văn viết thế nào.

Trong Movable Feast, Hemingway thú nhận có khi ông mất nguyên một buổi sáng để viết một câu văn. Mà câu của Hemingway thường gồm những từ đơn giản và ngắn tủn. Đọc lại The Sun Also Rises, mới thấy câu văn của Hemingway thật kinh khủng. Nghĩ lại, đó có thể là những câu văn mà mất nguyên một buổi Hemingway mới viết xong.

Trong Other Colors, Pamuk kể mỗi ngày ông làm việc mười tiếng. Mười tiếng đó trung bình ông viết được nửa trang đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng của chính ông.

Thế cho nên, lúc nào nghe nhà văn nào đó tâm sự trên báo tôi viết cuốn này nhanh lắm, nửa tháng, 20 ngày, một tháng, không khỏi cười.

Viết nhanh thì cũng được quên nhanh thôi mà.

Hết giờ!