Hiển thị các bài đăng có nhãn NNT. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn NNT. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 8 tháng 4, 2016

Tháng Tư về



Khi những náo nhiệt của hội sách đã qua, khi không còn phải mướt mồ hôi, chen chân chọn mua sách...giảm giá, ắt là đã đến lúc ngồi lại, thật sự cầm những cuốn sách lên và đọc. Xin giới thiệu một số cuốn sách mới được tung ra trong hội sách vừa rồi.

Thuốc mê, tiểu thuyết của Thâm Tâm

Có một Thâm Tâm thi sĩ đã quá nổi tiếng với Tống biệt hành và những giai thoại gắn liền với TTKH. Khó hình dung ra chàng thi sĩ u uất và u sầu (trong thơ) ấy từng viết tiểu thuyết. Cũng khó hình dung ra làng quê Việt Nam từng có những tục như được kể trong Thuốc mê, nhất là với người đọc ngày nay. Đó là câu chuyện về một tập tục ở một ngôi làng Bắc bộ, ở đó hằng năm làng chọn ra một người con gái mang theo thuốc mê và thuốc độc đi sang làng khác quyến rũ đàn ông rồi giết anh ta, và chỉ được trở về làng khi còn trinh tiết. Truyện được viết gọn, sắc. Mạch truyện nhanh, giàu kịch tính. Đọc Thuốc mê vào đầu thế kỷ hai mươi mốt là để hiểu hơn một chút về một mảng làng quê đầu thế kỷ hai mươi và để tìm những kết nối mong manh giữa hiện tại và quá khứ.

Không ai qua sông, tập truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư

Văn chương thế giới không thiếu những nhà văn chuyên chú khai thác một vùng đất lặp đi lặp lại trong các tác phẩm của mình. Nguyễn Ngọc Tư cũng thế. Hầu hết tác phẩm của chị xoay quanh cảnh và người miền Tây Nam Bộ. Tuy nhiên, chị luôn sở hữu năng lực làm người đọc ngạc nhiên, cả khi người đọc ngỡ đâu không còn gì mới lạ trong truyện ngắn của chị. Đọc Không ai qua sông, rất dễ nhói tim vì những chuyện ất ơ của đời sống miệt quê. Đó có thể là chuyện một cậu trai đâm chết thằng bạn thân chẳng vì lý do gì (“Giữa mùa Chán Chết”), chuyện một cậu trai khác mắc kẹt trong một vùng đất “yên ả” đến tẻ nhạt (“Tiều tuỵ vòng quanh”), hay chuyện một cậu trai khác nữa mắc kẹt lưng chừng trời trong một vụ tình ái vụng trộm. Không ai qua sông còn là tập truyện của những hụt hẫng mà ở đó vợ chồng hay tình nhân chia tay nhau vì những nguyên nhân người ngoài tưởng nhỏ như con kiến mà người trong cuộc thấy to bằng con voi (“Vực không đáy”, “Dây diều”). Truyện dài nhất tập mang cái tên đầy tham vọng là “Đất”. Ở câu chuyện trải qua bốn thế hệ, dữ dội không kém Cánh đồng bất tận này, không thể không phục tác giả tài gói ghém chi tiết, dàn dựng nút thắt nút mở.  Tuy nhiên, vì dụng công nhiều quá, nên “Đất” có thể không gây “ép phê” bằng Cánh đồng bất tận

Hồ, Kawabata Yasunari, Uyên Thiểm dịch
     
Ám ảnh về cái đẹp là chủ đề thường gặp trong tác phẩm của Kawabata, nhà văn Nhật, chủ nhân giải Nobel Văn chương 1968. Hồ lần đầu tiên được dịch ra ra tiếng Việt, và là một trong hiếm hoi tiểu thuyết của ông được dịch trực tiếp từ nguyên ngữ. Hồ là câu chuyện về Gimpei, người đàn ông kỳ quái bị ảm ánh bởi vẻ đẹp của các cô gái, đồng thời lại mang trong người mặc cảm về cái xấu. Ám ảnh làm cho anh ta trở nên kỳ quái, thậm chí bệnh hoạn, nhưng tận cùng trong anh ta là một tâm hồn cô đơn và dễ bị tổn thương. Có lẽ phần nào Gimpei cũng là hình ảnh nước Nhật thời hậu chiến. Văn của Kawabata bảng lảng như mặt hồ đầy sương khói, mang vẻ khó nắm bắt đặc trưng. Không thể không nói thêm rằng, ấn bản Việt ngữ này có bìa thật hợp.

Quấn-Quít, Émile Ajar (Romain Gary), Hồ Thanh Vân dịch

Một đô thị mười triệu người trong đó bao nhiêu người cô độc? Bao nhiêu người bất lực khi thiết lập mối giao tiếp với người khác? Bao nhiêu người không thể chia sẻ buồn vui với con người, và thay vào đó, chia sẻ với một con trăn? Và bao nhiêu người sẽ hóa thành trăn theo một cách nào đó?  Quấn-Quít , cũng là tên con trăn mà nhân vật chính nuôi làm bạn tâm giao, là cuốn tiểu thuyết viết về sự cô độc kỳ lạ bậc nhất, với ngôn ngữ kỳ lạ bậc nhất (có thể cảm nhận điều này qua bản dịch tiếng Việt của Hồ Thanh Vân). Émile Ajar là bút danh khác của Romain Gary, tác giả của những tác phẩm xuất sắc khác đã được dịch ra tiếng Việt như Lời hứa lúc bình minh, Cuộc sống ở trước mặt, Bao người chờ đợi

Thứ Sáu, 25 tháng 3, 2016

Mấy cuốn mới đọc gần đây

Gần đây tôi đọc mấy cuốn tương đối mỏng, nếu không buồn ngủ thì đọc một hai, tối là xong. Sáng dậy gõ vài dòng vào Goodreads làm bằng chứng. Chép  lại ở đây:

Trần Khánh Dư của Lưu Sơn Minh, Đông A xuất bản

đọc cũng được

nhưng "cũng được" chắc không phải từ tác giả muốn nghe :)

nói chung tác giả nói 8 năm mới viết xong, tôi tin, vì rõ ràng tác giả viết công phu và chăm chút

tuy nhiên, công phu và chăm chút không có nghĩa là tác phẩm đạt được những điều tác giả muốn

tác giả muốn khắc họa một Trần Khánh Dư kiêu bạc và cô độc, nhưng cứ lặp đi lặp lại rằng "ông rất cô độc" không hẳn là cách hay

trận hải chiến Vân Đồn gần cuối sách đáng lý phải là một đỉnh điểm, bùng nổ, cái chết của các vị tướng thân cận lẽ ra phải gây nhiều đau đớn hơn, phải làm cho người đọc bùi ngùi, nuối tiếc hơn. Ở điểm này, Lưu Sơn Minh chưa bằng được thầy mình - Hà Ân.

dù sao, tôi vẫn trân trọng nỗ lực của nhà văn và luôn muốn đọc/xem những tác phẩm khai thác đề tài sử Việt


Hồi phục của Phan Hồn Nhiên, Trẻ xuất bản

Rất tệ, một thất vọng lớn so với Ngựa thép của chính Phan Hồn Nhiên ra cách đây hai năm. Ngựa thép đã có dấu hiệu văn hơi Tây, nhưng hãy còn ở trong chừng mực mang đến cho câu văn chút lạ lẫm nhất định, và nói chung thì giọng văn ấy hài hòa với câu chuyện. Còn trong tập này, PHN viết văn như người nước ngoài viết tiếng Việt, hay như dịch từ tiếng nước ngoài ra, mà là một bản dịch rất vụng nữa. Chẳng những PHN dùng cấu trúc dịch từ tiếng nước ngoài, mà cả từ vựng. Người Việt nào sẽ nói "trả từng phần" thay cho "trả góp", hay đặt câu kiểu "cảm xúc được thiết lập bởi...." Hằng hà sa số câu cú và từ dùng ngô nghê như thế trong Hồi phục. Vì văn quá tệ, mọi thứ khác trở nên không còn quan trọng.

Cũng nói thêm, cuốn này đầy lỗi biên tập. Chẳng hạn, trong cùng một trang, lúc thì dùng  "va-li", lúc thì dùng "valise".


Sương mù tháng Giêng của Uông Triều, Trẻ xuất bản

Bối cảnh của Sương mù tháng Giêng chủ yếu trải từ kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ hai sang kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ ba của nhà Trần. Thời kỳ này, nếu chỉ đọc chính sử, ta cũng biết có rất nhiều sự kiện diễn ra; quan trọng hơn, có nhiều "chuyện" để nhà văn tưởng tượng, thêm thắt vào, để thành tiểu thuyết, ví dụ chuyện vua Trần gả An Tư cho Thoát Hoan, chuyện Trần Ích Tắc phản bội, chuyện Trần Bình Trọng hy sinh, chuyện Trần Quốc Toản dấy quân, mối bất hòa giữa Trần Quang Khải và Trần Hưng Đạo, chuyện Trần Khánh Dư tòm tem công chúa Thiên Thụy .v.v..

Uông Triều chọn cách gom gần hết những chuyện trên đây vào Sương mù tháng Giêng, thay vì chỉ khai thác sâu một trong những sử liệu trên. Làm vậy cũng được, nhưng nếu vậy, người đọc trông đợi một cuốn tiểu thuyết bề thế, đầy đặn hơn. Đằng này, rất nhiều chương trong Sương mù tháng Giêng chẳng khác gì những bài đọc lịch sử trong sách giáo khoa lớp 5. Sự sáng tạo của nhà văn là hạn chế.

Vậy nhà văn có sáng tạo không? Có, nhưng rất tiếc, những chỗ ấy thường mang màu sắc cải lương, gượng gạo, sến, non yếu. Những đoạn độc thoại nội tâm của Trần Khánh Dư, Trần Nhân Tông, Trần Ích Tắc thậm chí của Hốt Tất Liệt và Thoát Hoan đều được viết na ná nhau. Quay qua quay lại đều có những câu cảm thán như "ta là ai" "nó là ai mới được chứ". Đoạn đối thoại giữa An Tư và Thoát Hoan thì quá sức cải lương, tầm thường đến mức buồn cười. Ngoài ra, việc nhà văn trộn lẫn giữa phong cách người kể chuyện toàn năng và độc thoại nội tâm là không đạt, gây đứt gãy trong mạch kể, khiến các độc thoại nội tâm đều có vẻ giả tạo.

Tôi rất tiếc không tìm ra được điểm sáng trong cuốn tiểu thuyết này, mặc dù rất quý tác giả!

PS. Giá bìa cao phi lý, 112.000 đồng.



Không ai qua sông của Nguyễn Ngọc Tư, Trẻ xuất bản

 3.5 sao, làm tròn thành 4.

Nếu như cầu thủ bóng đá có người chỉ thiên khiếu mà thành tài, có người vừa có khiếu vừa chuyên cần học hỏi luyện tập, thì Nguyễn Ngọc Tư thuộc loại thứ hai. Tư vừa có khiếu, vừa rất chăm học. Càng về sau, kỹ thuật viết truyện của chị càng cao cường. Kỹ thuật cao không luôn đồng nghĩa có truyện hay, tuy nhiên, cái nào ra cái đó, thấy kỹ thuật cao thì khen kỹ thuật.

Tiêu biểu cho lối viết thiên về kỹ thuật là truyện Đất, truyện dài nhất ở cuối tập. Ở câu chuyện trải qua 4 thế hệ, dữ dội không kém Cánh đồng bất tận này, không thể không phục tác giả tài gói ghém chi tiết, dàn dựng nút thắt nút mở .v.v.. Tuy nhiên, vì khéo quá, dụng công nhiều quá, nên không ép phê bằng Cánh đồng bất tận.

Những truyện đáng chú ý khác trong tập là Tiều tụy vòng quanh, Vực không đáy và một hai truyện nữa nhất thời không nhớ tên (mới nhớ ra một truyện là Giữa mùa chán chết).

Tập truyện này với người khác có thể kể là một thành tựu, nhưng với Tư thì chưa vượt lên chính mình. Tuy nhiên, sự chuyên nghiệp của chị là điều đáng trân trọng.


PS. Tôi sẽ thích hơn nếu tên truyện được rút lại, ví dụ Vực thay vì Vực không đáy, Tiều tụy thay vì Tiều tụy vòng quanh, Chán thay vì Giữa mùa chán chết; còn Không ai qua sông thì có thể rút thành Không! 


 

Thứ Năm, 1 tháng 5, 2014

Tư cách của độc giả

Sau hai năm lãng du với tiểu thuyết (Sông) và thơ (Chấm), với Đảo, Nguyễn Ngọc Tư trở lại với thể loại sở trường của mình, truyện ngắn, và ngay lập tức chúng ta có một dấu ấn. Mặc dù những truyện ngắn trong tập này không hoàn toàn mới được viết, nhưng khi đọc chúng trong một tổng thể, dấu ấn đó dễ nhận ra hơn. Nếu với Ngọn đèn không tắt, Nguyễn Ngọc Tư thông báo sự xuất hiện của một nhà văn, với Cánh đồng bất tận, Nguyễn Ngọc Tư khẳng định tư cách nhà văn của mình với đông đảo độc giả, thì với Đảo, Nguyễn Ngọc Tư xác định một tư cách mới: tư cách của độc giả.

Đảo, chúng ta gặp lại những câu lúc nào cũng gọn ghẽ, những từ lạ lẫm được ném ra bất ngờ dễ làm ta u ơ, và gặp lại một thứ văn xuôi đầy nhạc tính (dẫu ta biết tác giả chỉ ưa nhạc tài tử chứ không phải jazz hay alternative!)  Ở Đảo, chúng ta gặp lại những cảnh quê buồn tẻ, những mảnh đời tuyệt vọng của những con người bình dân, chúng được nắm bắt thần tình, và được kể một cách cuốn hút, thường từ những dòng đầu tiên. Đó chính là một Nguyễn Ngọc Tư mà chúng ta quen thuộc.

Nhưng ở Đảo còn có một Nguyễn Ngọc Tư khác, một Nguyễn Ngọc Tư nhà văn-độc giả, một Nguyễn Ngọc Tư vận dụng vốn đọc thâm hậu không kém ngòi bút của mình vào tác phẩm.  Trong tập này, lần đầu tiên chúng ta thấy có những truyện mà ở đó trên nền những chất liệu quen thuộc Nguyễn Ngọc Tư tư duy về ngôn ngữ, về sự đọc hoặc sự viết, hoặc xây dựng truyện với những cú nháy mắt tới sự đọc và sự viết. Tình cờ, hoặc không tình cờ, đó cũng là những truyện xuất sắc nhất tập.

Trong Biến mất ở Thư viên, khi người yêu biến mất vào trong những trang sách, thì cô gái trở thành một người đọc, cô chăm chú đọc đến độ người yêu kế tiếp của cô cũng biến mất vào những trang sách, ắt để mong được nhìn thấy.  Trong Vị của lời câm, bi kịch của người con gái được khắc hoạ từ một khía cạnh độc đáo của ngôn ngữ: lời. Hay chính xác hơn, lời không được nói ra, lời “ngậm lâu nên chúng bợt bạt, tả tơi”, lời bị “nuốt trộng”, “mắc nghẹt muốn nín thở”. Còn trong Đánh mất cô dâu, thì nhân vật trong thao tác viết của tác giả lẫn lộn vào một câu chuyện về một cô dâu nào đó rất có vẻ như có thật đâu đó ngoài đời.

Truyện đặc sắc hơn cả chính là truyện đặt ở cuối tập, Tro tàn rực rỡ. Đó là một truyện ngắn gần như hoàn hảo, mà chỉ để phân tích một chi tiết chẳng hạn như “cái nhìn” trong truyện này, ta có thể cần tới vài ba trang giấy.  Với nhân vật người vợ - người kể chuyện trong truyện này, Nguyễn Ngọc Tư đã xây dựng nên một nàng Scheherazade của riêng mình.  Nàng Scheherazade trong Nghìn lẻ một đêm kể chuyện để giữ tính mạng, còn nàng Scheherazade của Nguyễn Ngọc Tư kể về những đám cháy nhà của một đôi vợ chồng hàng xóm để chồng mình về nhà, để chồng mình nghe, hòng tìm lại cái nhìn ngây say của đêm định mệnh xưa. Khi không còn đám cháy nào nữa để kể, thì rất có thể chồng không về nữa.

Nếu có chỗ nào không hài lòng với Đảo, thì đó là đôi lúc tác giả tỏ ra hơi cầu kỳ với từ ngữ. Cầu vồng vẫn có thể “chói chang” chứ không nhất thiết phải lộn ngược thành “chang chói” (truyện Lưu lạc), hay  một chàng thanh niên hai mươi bốn tuổi mà “xấp xãi tắm táp” (truyện Biến mất ở Thư Viên) nghe có vẻ hơi kém thanh niên đi một chút! Mặc dù vậy, với Đảo, Nguyễn Ngọc Tư đã làm khó những ai nhăm nhe ý định làm tuyển tập truyện ngắn hay trong năm hay trong mười năm qua.v.v. bởi Đảo cung cấp nhiều hơn một ứng cử viên.


Quân Khuê

http://tusach.tuoitre.vn/ArticleView.aspx?ArticleID=605260


Thứ Hai, 1 tháng 10, 2012

Trời mưa, hay cơ hội của sến


Trời mưa, nếu không phải đang lặn ngụp ngoài đường, người ta rất dễ sến. Mười chín, hai mươi tuổi, người ta có thể sến như thế này:

Trời mưa đến nỗi làm thơ được
Trái đất rong rêu ngàn sợ buồn

Hai câu kế là gì, thằng Bố Cu Hưng chắc còn nhớ. Thằng này trí nhớ cực tốt, nhớ thơ của khắp bạn bè, thơ càng sến, càng nhớ dai. Thỉnh thoảng, nó nhắn vào điện thoại mấy câu thơ của một thời ốm đói, hay gặp nhau nó lôi thơ ra đọc, đứa nào cũng tưởng nó chỉ thuộc thơ mình. Dè đâu là tạng nó sến nên thơ hễ sến là nó nhớ.

Thời không phải mười chín, hai mươi nữa, trời mưa vẫn làm người ta chùng lòng, lôi đĩa Tuấn Ngọc hát Vũ Thành An ra nghe cho lòng chùng thêm chút nữa. Nhớ. Nhớ những ngày mới vào đại học, với mấy thằng bạn ốm, hay ngồi co ro trên những chiếc ghế xếp trong mấy quán cà phê cạnh trường, mưa lướt thướt và khói thuốc hình như cũng ướt (khói thuốc từ mồm mấy thằng bạn, chứ mình tập tọng rồi ho sặc gạch nên chẳng đua đòi).  Đứa nào thời ấy cũng có vài cuộc tình u uất, hoặc cố làm cho u uất. Chẳng bao giờ hiểu nổi câu “ Đời con gái cũng cần dĩ vãng/ mà em tôi chỉ còn tương lai”,  “còn tương lai” mà sao thê thảm thế, huống gì mấy thằng sinh viên kiết xác, tiền cà phê có khi không có trả, nghĩ gì tới tương lai.

Trời mưa, lôi Sông ra đọc lại. Sông thì không sến, nhưng mưa nhiều quá, nước chảy nhiều quá, đường sá thành sông cả, đọc lại Sông không phải hợp lắm ru. Đọc Sông lần thứ nhất, thấy văn đúng là văn Tư, gọn ghẽ, chỉn chu vào hàng bậc nhất trong các nhà văn Việt Nam đương đại, nhưng sao không thấy đã, mà thấy thiếu thiếu cái gì. Đọc Sông lần thứ hai, thì biết, hóa ra không thiếu, mà thừa. Không phải thừa câu, thừa từ, hay thừa chuyện, mà thừa mồi. Đây là mồi, ví dụ: “Cậu nhớ mình cũng đọc đâu đó chuyện đàn chim sẻ  bay về dùng mỏ nhổ cỏ trên mộ ông vua hiền lương thương dân như chưa con. Giờ chim sẻ thà đi nhặt cơm thừa ở sàn nước còn hơn, vì kiếm đâu ra những ông vua kiểu vậy.” Ví dụ nữa: “Em bé gằn giọng chữ giặc, mắt vằn những tia máu.  Con nít con nôi hỉ mũi chưa sạch mà ai bày đặt cho nuôi oán thù chi.” Mồi như vậy trong Sông nhiều lắm, toàn mồi ngon, làm status Facebook rất sướng. Nhưng mồi ấy hợp với món tản văn hơn. Mặc dù vậy, vẫn thích Sông, và khoái cú biên tập (của ai?) từ cái tựa ban đầu Đầu sông cuối bãi thành nhõn Sông, đưa Sông ra khỏi quỹ đạo êm đềm bốn chữ của những Ngọn đèn không tắt, Khói tarời lộng lẫy, Yêu người ngóng núi, Cánh đồng bất tận, Gáy người thì lạnh

Trời hết mưa. Chuyển sang đọc Phương Đông lướt ngoài cửa sổ, à, hay đọc cho xong Ba phụ nữ can đảm đã?



Thứ Năm, 5 tháng 1, 2012

Sảng khoái

Đầu năm đọc được một truyện ngắn hay của Nguyễn Ngọc Tư, cảm thấy rất sảng khoái. Xin chúc mừng chị.

Chỉ "nhiều chuyện" hai chỗ:

Một là tại sao chị viết "tôi tới muộn" thay vì "tôi tới trễ". Phải chăng vì chị lỡ coi VTV quá nhiều?:)

Hai là, câu cuối, tôi sẽ thích hơn nếu chị cắt đi  mấy chữ  "với ý nghĩ chỉ khi biến mất mình mới được tìm." Theo tôi như thế truyện sẽ tạo nhiều dư âm hơn.

---------------



Biến mất ở Thư Viên
Truyện ngắn
Nguyễn Ngọc Tư

Lúc đó Sinh đứng chỗ kệ sách văn học, người Sinh cao nên Hảo vẫn nhìn rất rõ mấy cục xương bén ngót của vai anh đội lên khỏi áo. Từ kệ sách nấu ăn chị nói vóng qua người ta bày cách làm món cá trứng về kho gừng coi bộ ngon quá chừng nè, Sinh ừ nhưng không ngước lên, chị không biết anh mải mê coi sách hay nhìn điện thoại. Khi Hảo rướn cổ ngó qua lần nữa thì Sinh đã biến mất.
“Bữa đó có mưa không?”, tôi hỏi, như đang rất quan tâm câu chuyện được nghe kể hàng trăm lần, trong lúc ngoáy một lọn tóc nhỏ của Hảo, nghe đầu ngón tay mát lành như chạm vào mảnh lụa đen nhức, nuột nà. Hỏi, để nhìn nét mặt chị lung linh, “có, mưa lớn, nên tụi Hảo mới tạt vô nhà sách để trốn mưa. Chớ tụi này ít học, nuốt chữ đâu có nổi…”.
- Bữa đó mà nắng thì tụi này về nhà luôn, biết đâu Sinh không đi mất…
Tôi cũng thuộc lòng cái ngữ điệu của câu nói đó, thuộc vẻ ngơ ngác thường ngày bắt đầu tuôn từ trên tóc xuống, lan nhanh cả khuôn mặt xương xương, vẻ ngơ ngác mà khi nhìn thấy lần đầu ở Thư Viên, tôi đã yêu liền, bất chấp Hảo lạ huơ lạ hoắc, bất chấp chị đang lơ ngơ cầm trên tay loại sách mà tôi cực ghét “cẩm nang chăm sóc gia đình”.
Sau này mới biết lúc ấy Hảo cứ cầm sách trên tay cho vui, cho hết những buổi tối Thư Viên dài dằng dặc. Chị không có gia đình, không có riêng một người đàn ông nào để thực hành những thứ ngớ ngẩn kiểu như “đừng quên nhìn sâu vào mắt chàng”, hoặc “hãy đánh thức tình yêu của chàng bằng một món ăn ngon” mà sách dạy. Thứ Tư tuần nào Hảo cũng tới Thư Viên, rảo một vòng, nấn ná giữa hai kệ sách văn học một lúc, thử hình dung từ chỗ này Sinh đi đâu mất biệt. Sinh vòng qua chỗ sách từ điển hay rẽ sang khu sách kỹ năng sống để bước về phía cửa, gần chỗ chị đứng. Nếu vậy sao chị không có một cảm giác gờn gợn nào, không nghe thoáng mùi mồ hôi quen thuộc lúc người đó lướt qua? Hay Sinh đi thẳng vào vách tường vôi trắng như người ta vạch một cái rèm, bóng khuất sau tiếng lao xao.
- Có khi nào Sinh đi vô trong mấy cuốn sách kia không ta?
Một bữa Hảo chợt hỏi tôi, mắt lấp lánh bởi ý nghĩ mới mẻ vừa nảy ra trong đầu. Nó khiến chị bắt đầu cầm những cuốn sách lên ngấu nghiến, dù trước đó chị hay trề môi bảo nuốt chữ mắc nghẹn chết, bảo cứ cầm lên buồn ngủ, cho cuốn sách thà cho củ khoai thích hơn.
Đó là năm thứ bảy Sinh đi và là năm thứ ba tôi đưa đón Hảo tới nhà sách Thư Viên vào mỗi tối. Từ trường về, không kịp thở hơi nào dài được một lóng tay, tôi xấp xãi tắm táp để kịp chạy đi đón chị. Tôi tới muộn Hảo sẽ tới nhà sách bằng xe bus, những chuyến xe chiều luôn đông nghẹt người, chị phải đứng suốt mười một cây số đến trung tâm thành phố, đôi khi xuống xe thì bị móc túi lấy sạch tiền, chân sưng. Tôi xót lắm, nên thường để cái đầu tóc còn nhỏ nước ròng ròng hớt hãi chạy tới chị. Và má tôi chỉ biết ngó theo, thở dài.
Những hậm hực, cằn nhằn, sự thất vọng của má, sau ba năm tôi yêu Hảo, giờ teo quắt lại thành những tiếng thở dài. “Đời mày rồi không biết tới đâu…”, má tôi thường nói vậy. Chắc là không người mẹ nào hân hoan khi thấy thằng con trai nheo nhẻo của mình yêu con đàn bà lớn hơn nó tám tuổi, con nhỏ từng sống thử với người khác như vợ chồng, từng có bầu, từng đẻ non.
Rả rích thu lượm, má tôi lần dò được khá nhiều chi tiết cuộc đời Hảo, cả chuyện chị từng được nuôi dạy trong nhà mở. Hồi đầu bà đấm ngực kêu trời trong lúc tôi tỉnh bơ nói, “Có sao đâu. Nhằm nhò gì.”. Tức mình bà tới tận nhà trọ của Hảo để xin người ta tha cho thằng nhỏ con bà, nhưng nhìn thấy chị thì bà lẳng lặng về.  Gương mặt và cặp mắt lơ ngơ cứu Hảo khỏi những lời nặng nhẹ. Vừa có vẻ đói khát vừa mệt mỏi, vừa tìm kiếm vừa hẫng hụt, vừa hy vọng vừa vô vọng, như má tôi miêu tả, mặt con nhỏ đó như chó con đi lạc.
Ý nghĩ  Sinh biến mất vào trang sách phả một sức sống lạ lùng vào Hảo, làm chị tươi tắn, rạo rực hơn. Như đang đói gặp được củ khoai lùi. Chị nói có thể Sinh đã đổi tên là Long trong cuốn “Ruồng rẫy”, hoặc là Trọng hóa sói trong “Lốt thú”, là Vũ trong “Đánh mất mặt người” hay vẫn chính là Sinh họ Phúc trong Vân Kiều truyện. Cuộc tìm kiếm ngày càng mênh mông vô tận, và đôi lúc đang hôn nhau Hảo nhắc tới một cuốn sách nào đó mà con mọt sách như tôi còn nghe xa lạ.
- “Đòn kết liễu”  của Marguerite Yourcenar có thằng đại úy nhẫn tâm kinh khủng.
Tôi thấy hơi khó chịu, không phải vì cách phát âm ma ri rít sai bét của cô công nhân may giày, cũng không phải vì con muỗi đang bay vo ve từ nãy giờ. Đập rát cả tay mà nó không chết, tôi hậm hực “người không ra gì mà nhớ hoài…”.
Hảo nói đâu có nhớ. Chỉ tìm Sinh để hỏi cho rõ sao biến mất kỳ vậy, nếu chán nhau rồi thì nói thẳng, từ giã rồi đường ai nấy đi, sao lại phải âm thầm chạy trốn. Không nhớ đâu, tìm Sinh chỉ để cho hay Hảo đã chuyển thuê nhà khác rồi, không nấn ná được vì chỗ cũ bị giải tỏa, Sinh khỏi về lấy quần áo mắc công. Mắc gì mà nhớ, tìm Sinh để báo tin đứa con tên Nguyện mà Sinh đã đặt tên hồi còn chưa biết là trai hay gái, em bé đó đã hóa thành chất lỏng trôi tuột khỏi người chị sau một cú trợt chân ngoài thềm ướt. Hơi đâu mà nhớ, tìm Sinh để nói cho hay là có thằng con trai mới lớn thua Hảo tám tuổi, tức là tôi, đang mê chị. “Đeo dai như đỉa vậy”, chị véo mũi tôi, cười.
Tôi sướng lắm, cứ nhìn thấy Hảo cười là tôi sướng. Nằm gối đầu lên bắp đùi chắc lẳn của Hảo và tưởng tượng ra nét mặt ngượng ngập của gã đàn ông kia, khi Hảo vênh mặt kể với hắn rằng tôi thường cắt giũa móng chân cho chị. Tối nào tôi cũng xoa bóp đôi vai mỏi nhừ của chị đến khi tay tôi mỏi nhừ. Áo mưa che chung tôi luôn giành Hảo phần ướt. Tôi còn đọc sách nữ công gia chánh, gạn hỏi má tôi cách nào thịt bò không dai để nấu vài món cho chị bồi bổ những hôm tăng ca. Tôi còn rủ Hảo bao giờ tôi ra trường, xin được việc sẽ làm đám cưới. Tôi không muốn Hảo chờ tôi lớn thêm nữa, vì muộn quá chị sẽ khó sinh con.
Trong lúc tôi phổng mũi la đà thêu dệt thì Hảo di di ngón tay lên vành tai tôi, nói nhân vật Barrow bảnh trai trong “Những mối tình câm lặng” cũng biến mất khi ngồi thổi bong bóng, như thể bong bóng đem anh ta bay lên trời vậy. Tôi day qua úp mặt vào vào bụng Hảo, nghe ruột chị cồn lên trong đó, để giấu mấy giọt nước mắt ủy mị của thằng con trai mới lớn, vì ý nghĩ Hảo không thèm dòm ngó, đếm xỉa gì tôi.
Cuối năm tôi hai mươi bốn tuổi, cái đám cưới mà tôi vẽ ra trong tưởng tượng đã đầy đủ những chi tiết cần thiết, tự dưng tôi thấy bồn chồn. Những tối ở nhà sách Thư Viên, tôi đứng ở một kệ sách nào đó và ngó về phía Hảo trong lúc chị nép giữa những kệ sách văn học, say sưa đọc. Sức sống rực lên ở Hảo khi chị cắm cúi vào rừng chữ, như chưa từng mệt mỏi sau một ngày làm việc với những cái máy may đầy kim nhọn. Đứng lâu mỏi chân chị la cà ở gian sách khác nhưng mắt luôn ngó về nơi gã đàn ông xưa từng đứng. Tôi kêu trong câm lặng, Hảo ơi nhìn tôi đi, tìm kiếm tôi đi. Không âm thanh, nhưng cổ họng thì như bể nát. Nhưng buổi tối ở Thư Viên, từ lúc đặt chân vào đó cho đến khi nhà sách rung chuông đóng cửa, Hảo không một lần đưa mắt tìm tôi.
Một bữa đứng ở kệ sách tôn giáo, tôi giơ một cuốn lên vẫy vẫy gọi Hảo, cuốn này có nói về nghệ thuật buông bỏ nè. Hảo ngẫng lên, hơi ngạc nhiên rồi quay lại với cuốn sách đọc dở trên tay, tìm kiếm trong đó một gã xấu xa nào hao hao một người đàn ông biền biệt từ lâu lắm. Hảo không biết đó là lần cuối cùng chị nhìn thấy tôi. Hôm ấy tôi mặc áo kẻ màu xanh xám, tóc tôi cắt cao. Biến mất như một phụ diễn trong màn ảo thuật, tôi đi vào khe của những cuốn sách, náu trong thứ bóng tối trong suốt, với ý nghĩ chỉ khi biến mất mình mới được tìm.


(Dùng bản Tư gởi cho Viet-studies:))

Thứ Sáu, 12 tháng 8, 2011

Nhà văn viết cho ai (II)



"Nghề văn là nghề thanh cao, văn giới mỗi lúc lại mỗi đông đảo, phức tạp. Thỉnh thoảng có nghe nói đến những vị viết vì một nhu cầu nội tại, vì những bức xúc trong tâm hồn, nếu không viết ra thì không thể chịu nổi; ngoài ra họ không cần biết có ai đọc mình hay không. Đã có kẻ bảo thế thì hẳn phải có thế. Nhưng đó chắc chắn là chuyện của một số hiếm hoi ở tầng lớp cao chăng. Còn từ hạng Nguyễn Du xuống đến đa số chúng ta, viết là viết cho người đọc.

Sách hoàn tất, tác giả Tố Như có bản dâng vua: vua đây được dâng trong tư cách độc giả đấy, trong tư cách kẻ mua vui vài trống canh đấy thôi. Vua mà còn bé, chưa biết chữ, thì tất chẳng ai dâng thơ dâng truyện.

Đến cụ Nguyễn Du còn vậy, chúng ta thất lễ với độc giả được sao?"

Đoạn trên đây trích từ cuốn này:

 

Còn đây là chứng cớ Võ Phiến khen chị Tư Sầu Riêng:



Mình chưa có cuốn Tạp văn của Nguyễn Ngọc Tư.

:) 

Thứ Bảy, 11 tháng 12, 2010