Hiển thị các bài đăng có nhãn Đơn dương. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đơn dương. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 8 tháng 12, 2010

Tháng mười hai trên những giàn su xanh


Tháng mười hai trên những giàn su xanh (*)

Tất nhiên ai sinh ra lớn lên ở vùng rau như Đà Lạt, Đơn Dương, Lâm Đồng đều biết su su, tuy to chẳng kém su hào, nhưng không phải là su hào. Su hào là củ còn su su là trái. Muốn ăn su hào phải đào đất lên còn muốn ăn trái su su phải hái từ trên giàn xuống. Sủ cu hào trăng lủng lẻo hay củ su hào treo lủng lẳng chỉ là câu nói đùa của những người giả vờ nói tiếng Hoa, còn trái su su mới đích thực là trăng lủng lẻo hay treo lủng lẳng. Sở dĩ vòng vo thế là vì, ngạc nhiên chưa, tôi đã gặp rất nhiều người tưởng su su là củ, hoặc nếu không là củ, thì cây su su chắc to không kém cây ổi! Đằng nào thì ổi và su su trông cũng khá giống nhau: đều màu xanh.

Cây su su tuy trái to nhưng thật ra rất yếu ớt, chẳng thể đứng nổi một mình mà lúc nào cũng phải bò lên một cái gì đấy, chẳng hạn như hàng rào, nhưng tốt hơn là một cái giàn: giàn su su. Hồi tôi học lớp 8, lớp 9, hai anh em tôi bỏ cả mùa hè lên núi vác về cả trăm cây gỗ to cỡ bắp chân, để làm giàn su su. Phải đào đất, chôn cả trăm cây gỗ đấy xuống làm cọc, mỗi cọc cách nhau chừng 5, 7 mét; xong rồi, giăng dây thép từ cọc nọ sang cọc kia. Khi xong, giàn su su chưa có dây su su nhìn giống như ma trận.

Dưới mỗi cọc, bắt đầu chôn những trái su su giống xuống. Su su giống là những trái su su già, già đến nỗi hạt thò ra ngoài, thường được gọi là su le. A, viết cái này tự nhiên tôi nhớ ra từ su le, lần gần đây nhất tôi dùng từ này chắc phải cách đây hai chục năm! Dây su su mọc lên khá nhanh, chỉ độ vài tuần là đã có một giàn su su xanh mướt, vài tuần nữa là đã thấy bao nhiêu là trái su su treo lủng lẳng. Ôi, su su tình yêu của tôi, kết quả lao động khó nhọc của cả nhà tôi, nỗi mơ mộng của tôi, và quan trọng hơn, thịt cá của gia đình tôi. Phải bán được su su thì mới ăn thịt cá, chứ không thì ăn su su cả tháng à.

Những ngày này, khi bắt đầu phải giám sát chế độ ăn để không tăng mức mỡ trong máu, tôi hay nhắc vợ mua su su về ăn. Tôi thích ăn su su luộc chấm chao. Tuy nhiên, món su su mua ở Sài Gòn về luộc lên ăn chỉ khá hơn rơm một tí. Tôi nhớ su su của những ngày thèm thịt cá. Su su của những ngày hái từ vườn vào, luộc lên xanh mướt, tô nước luộc bốc hơi nghi ngút, chấm với chao chùa làng, vị su su ngọt lừ, vị chao beo béo. Ăn từ từ thôi, vì ăn nhanh có thể không cần gặp nha sĩ mà răng vẫn rơi ra. Ai không tin thì cứ thử phập răng vào miếng su su vừa mới luộc.

Tháng mười hai, trời lạnh. Giàn su những sớm tháng mười hai ở Đon Dương sẽ xanh biếc, đẫm sương. Cả nhà tôi sẽ dậy sớm, mặc quần áo ấm vào rồi đi hái su su, chất vào những giỏ sắt to tướng. Có lần, chị tôi hái nhầm con rắn lục đang nằm uống sương mơ màng trên những đọt su non. Giàn su xanh, rắn lục cũng xanh, cùng màu nên thích lẫn vào nhau. May mà rắn lục mải uống sương nên tha cho chị tôi. Cả nhà được một phen hú vía.

Hôm nay lại là một ngày đầu tháng mười hai. Trời Đơn Dương chắc đã lạnh và hoa quỳ chắc đã nở vàng. Ở nhà, không còn giàn su su với cả rắn lục như xưa, nhưng nếu về Đơn Dương, hẳn sẽ vẫn được ăn món su su luộc xanh ngắt.

(*) Thơ Đỗ Trung Quân


Thứ Ba, 6 tháng 4, 2010

Đơn Dương trong mắt Land


Có một chàng trai trẻ nghe lời quảng cáo ngon ngọt đã đi du lịch bụi qua cái thị trấn nghèo xơ có tên Đơn Dương và chụp ảnh. Những bức ảnh này được đề tặng Especially for Goldmund. Cảm ơn bạn Land vì những tấm ảnh có thể khiến người Đơn Dương nhớ nhà.

Thung lũng Đơn Dương nhìn từ trên cao




Đơn Dương từ một góc nhìn trên cao khác. Phía xa là đập thủy điện Đa Nhim




Đập thủy điện Đa Nhim. Bạn GM từng ngồi đây câu cá suốt những mùa hè ba năm cấp III. Hết hè thì đen nhẻm như người châu Phi.


Mây trời. Có một làn mây trắng bay đi/ Một làn khói cuối trời quay trở lại. (Thơ GM 1994).




Cây cầu này do người Nhật bắc khi xây đâp thủy điện Đa Nhim vào đầu những năm 60. Cầu đã xuống cấp trầm trọng và sở dĩ còn sử dụng được là do người dân tự lót ván để đi lại. Từ nhà bạn GM ở Đơn Dương muốn đi lên đập Đa Nhim phải đi qua cầu này.



Từ ngôi nhà này người đã đi ra



Một căn nhà gỗ



Một con phố ở Đon Dương. Cái nhà bên góc trái chắc tuổi phải già non thế kỷ.




Thứ Ba, 30 tháng 3, 2010

Bên dòng Mai Nương (III)

Phần 2


***

Tôi đã sống như loài cây hoang dại. Cây hoang dại không được chăm sóc thường bị chết non, chết yểu nhưng cây nào còn sót lại sẽ sống tốt, sống khỏe. Tôi đã sống và lớn lên như thế đó. Và tôi cũng có thể tự hào nói rằng, tôi đã lớn lên bằng chính đôi tay, khối óc, mồ hôi, máu và nước mắt của chính mình.

Mười bảy tuổi, chuyện cơm áo gạo tiền đối với tôi là “vô tư”, là “không thành vấn đề”. Mười bảy tuổi, tôi là một aide-secrétaire (phụ tá thư ký) cho một đồn điền lớn của Pháp ở Blao (Bảo Lộc). Mười bảy tuổi, tôi quyết đi tìm mẹ. Không. Tôi đi tìm dấu tích của mẹ. Tôi xuôi về xứ nắng lửa mưa dầu để đến Cầu Bảo. Cầu Bảo là tên gọi xưa của Tháp Chàm. Tôi đứng tần ngần hồi lâu trước bệnh viện nơi trước đây là nhà thương thí, rồi tôi lại ngược lên Cầu Mống. Cầu Mống là chiếc cầu sắt giống hệt chiếc cầu của Dran nhưng ngắn hơn, chỉ có một nhịp mà thôi. Chiếc cầu này năm xưa khi qua tôi phải bò chứ chẳng dám đứng thẳng người mà đi. Cả bệnh viện lẫn chiếc cầu đều không gợi được cho tôi một hình ảnh gì về mẹ. Tôi thất vọng quay về. Tôi vòng lên Dalat, thăm hỏi, dò tìm. Cuối cùng tôi cũng tìm được ngôi nhà gỗ ngày xưa mẹ con tôi trú ngụ. May mắn làm sao, tôi có được tấm ảnh của mẹ. Mẹ đây rồi. Mẹ ngồi giữa hai người bạn. Tôi nhìn chăm chăm, bỗng bao nhiêu hình ảnh xưa hiện về. Mẹ đây rồi. Mẹ không đẹp lắm nhưng rất sang. Ở vào cái thời mà hầu hết phụ nữ trạc bằng tuổi mẹ đều ăn trầu, búi tóc thì mẹ không ăn trầu cũng không búi tóc. Tóc mẹ tết bím lỏng rồi quấn cao quanh đầu thật gọn gàng lịch sự. Trong ảnh mẹ mặc chiếc áo dài. Có những điều ta mới thấy đó rồi quên ngay nhưng cũng có những thứ nó ăn sâu vào tâm thức takhông bao giờ quên được. Như chiếc áo dài của mẹ, chỉ cần nhắm mắt một tí là tôi hình dung ra ngay, chiếc áo màu khói lam thật nhạt có những sọc trắng mờ, mặt vải bóng. Đây là xấp vải của một người bạn Pháp tặng mẹ. (Mẹ là một surveillante của trường nữ Pháp – Couvent des Oiseaux ). Buổi sáng khi đến trường mẹ mặc chiếc áo dài này, trên cổ buông lỏng sợi dây chuyền, bên ngoài mặc thêm chiếc manteau (áo măng – tô) tay xách giỏ mây, trông mẹ rất sang trọng ra dáng một “Quý Bà”.

Tôi đem ảnh mẹ nhờ thợ cắt xén rồi rọi lớn. Tôi đã có chân dung của mẹ. Trong những ngày sống lang bạt kỳ hồ tôi vẫn giữ kỹ ảnh mẹ một bên. Mãi sau này, khi đã có một tổ ấm riêng tư tôi mới đem ảnh mẹ đặt lên một chỗ trang trong. Tôi đề lên di ảnh:

Hai tám xuân qua chừ khôn lớn
Thì nay còn đâu mẹ hiền xưa
Đốt nén hương lòng con tưởng niệm
Công ơn trời biển mấy cho vừa


***

Tôi là kẻ ngoại đạo. Phật, Chúa đối với tôi là những người không quen biết. Một ngày tháng bảy theo bạn viếng chùa. Chùa đang vào hội Vu Lan. Một bầy chim nhỏ trong đồng phục áo lam cài sen trắng nhìn chúng tôi ngập ngừng dò hỏi, sau đó cài lên áo bạn tôi một bông hồng, còn tôi một hoa màu trắng. Tôi ngạc nhiên, bạn giải thích: Vu Lan là mùa Báo Hiếu. Những ngày này, con cái đều tưởng nhớ về cha mẹ, dù cha mẹ còn tại thế hay đã qua đời. Ai còn mẹ sẽ được hoa màu hồng, ai mất mẹ cài hoa màu trắng. Tôi mân mê đóa hoa mà thấy tủi thân vô cùng. Thì ra tôi đã mất mẹ. Đâu đây vang lên điệu hát:

Một bông hồng cho anh
Một bông hồng cho em
Một bông hồng cho những ai
Cho những ai đang còn mẹ…

Cám ơn Thiền Sư Nhất Hạnh đã du nhập về một mỹ tục đáng yêu.

Tôi theo đạo Phật từ đó. Tôi vào Gia Đình Phật Tử từ đó. Nơi đây tôi đã gặp biết bao bạn
bè cùng chung lý tưởng và sống chan hòa trong tình yêu thương dưới mái nhà Lam. Tôi yêu quý biết ngần nào, tôi nhớ nhung biết ngần nào cái Gia Đình Phật Tử Trúc Lâm bé nhỏ xa xưa của tôi.


***

Nếu ai hỏi tôi thèm gì nhất, chẳng cần đắn đo suy nghĩ tôi trả lời ngay: - Tôi thèm được gọi: “Mẹ, Mẹ ơi”! Có lẽ nỗi thèm khát đó đã đem lại cho tôi nhiều bà mẹ trong cuộc đời. Mẹ bạn là mẹ tôi. Có lần con gái bé bỏng của tôi bật nói: “Mình có nhiều bà nội quá há! Bên này có bà nội, bên kia có bà nội, ở Sài Gòn cũng có bà nội rồi trên bàn thờ cũng có bà nội nữa”. Tôi bật cười, con gái tôi đâu có biết tôi thèm có mẹ biết bao nhiêu. Bà mẹ nào tôi cũng yêu quý kính trọng nhưng tôi quý nhất là Má Năm.


Má Năm là mẹ của Chi, bạn tôi. Má Năm có món mì quảng tuyệt cú mèo. Cứ ra chợ Dran hỏi bà Năm Nhã bán mì quảng là ai cũng biết. Tội nghiệp Má Năm quanh năm tần tảo, chỉ với một ngôi nhà xiêu vẹo, một gánh mì quảng con con mà Má Năm đã nuôi được Chi ăn học tận Sài Gòn. Chi muốn gì cũng có, chỉ cần hê lên một tiếng là Má Năm chắt bóp mua cho bằng được. Nào quần là áo lượt, nào xe đạp, bút máy, giầy tây, Chi không thiếu một thứ gì. Lâu lâu tôi ghé thăm, câu đầu tiên Má Năm nói là: “Tổ cha bây, đi đâu mà mất biệt. Ngồi đó, ngồi đó… để tao làm cho tô mì ăn nghen.” Ôi, câu mắng đầy yêu thương, tôi nghe ấm cả lòng. Bưng tô mì quảng, tôi xì xụp vừa ăn vừa húp, sao mà ngon thế. Ngon không phải vì cọng mì dai dai hay sợi hủ tiếu chiên giòn giòn, cũng không phài do cái ngòn ngọt của thịt hoặc vị bùi bùi của đậu phụng rang mà nó ngon vì Má Năm đã nêm vào đây một chút tình thương chân thật.


Vợ chồng Chi lên Đắc Lắc lập nghiệp, Má Năm đi theo, từ đó biệt vô âm tín. Thời gian sau, một hôm tôi tình cờ biết được Má Năm đã trôi giạt lại về Dran rồi mất ở Lạc Xuân. Tôi tìm vào thăm, bàn thờ Má Năm hương tàn khói lạnh nằm khiêm tốn ở góc nhà của một người bà con xa dị giáo. Tôi xin phép rồi rước hương linh Má Năm về thờ ở chùa Giác Hoàng trong lúc vợ chồng Chi vẫn còn nằm trong trại cải tạo. Thế là tôi lại mất thêm một người mẹ.

***

Bạn còn mẹ ư? Tôi ganh tị với bạn nhưng tôi cũng thật lòng chúc mừng bạn. Mẹ là báu vật, bạn hãy trân trọng giữ gìn báu vật của mình.

Bạn mất mẹ ư? Tôi xin chia sẻ và thông cảm nỗi khổ đau của bạn vì nỗi khổ đau này tôi đã trải qua.

Dale Carnegie nói: “L’homme est un roseau, le plus faible de la nature mais c‘est un roseau pensant – Con người là một cây sậy, yếu ớt nhất trong thiên nhiên nhưng là một cây sậy biết suy nghĩ”. Hỡi những cây sậy biết suy nghĩ, hãy cho phép tôi được nói một điều, chỉ một điều mà thôi: “Hãy yêu quý mẹ, đừng bao giờ làm mẹ buồn, đừng bao giờ để mẹ phải rơi lệ bạn nhé!”

Lamnguyên
Tháng ba 2010

Chủ Nhật, 28 tháng 3, 2010

Bên dòng Mai Nương (II)

Phần I


Tôi sốt. Suốt ngày dang nắng đã rồi lại trầm mình dưới suối, tôi bị sốt li bì lúc tỉnh lúc mê. Suốt đêm mẹ ngồi bên cạnh. Cứ mở mắt ra tôi lại thấy mẹ cầm cái quạt mo cau phe phẩy cho tôi. Nào chanh, nào gừng mẹ xin về cho tôi uống. Đến khi tôi khỏe lại bình thường cũng là lúc mẹ tôi ngã bệnh. Ba hôm liền mẹ không ăn được chút gì. Buổi tối, mọi người xúm quanh bên mẹ tôi, xầm xì bàn tán. Rồi sáng hôm sau, hai người đàn ông khỏe mạnh khiêng mẹ tôi ra nhà thương. Mẹ nằm im trên chiếc võng rách, tôi lúp xúp chạy theo, tay xách cái bị lát với vài bộ quần áo.

Đây là nhà thương thí, nơi bệnh nhân được điều trị và ăn uống không mất tiền. Nơi đây chỉ dành cho những người bần cùng. Thuốc men thiếu thốn. Mỗi ngày y tá chỉ đến phát thuốc một lần rồi thôi. Tôi đi lấy phần ăn cho hai mẹ con. Hai bát cháo lỏng bỏng và hai đôi đũa, ăn cháo bằng đũa thật nực cười. Tôi chỉ húp cái xoẹt là xong. Tôi dùng đũa để đút cháo cho mẹ, mẹ chỉ khẽ lắc đầu rồi nằm thiêm thiếp. Tôi húp luôn phần cháo của mẹ. Tôi thường ra đứng trước cổng bệnh viện. Ở đây có nhiều hàng ăn. Trời đất ạ! Nồi cháo lòng bốc lên cái mùi thơm phưng phức, tôi giương mũi lên hít lấy hít để, nước bọt ứa ra, tôi nuốt ực một cái rồi thè lưỡi liếm môi. Tôi ước ao, rồi một lúc nào đó mình sẽ được ăn một tô cháo đàng hoàng.

***

Tính cả ba hôm nằm ở vườn chuối đến nay là sáu ngày rồi mẹ không ăn uống gì cả. Khác với mọi hôm, sáng nay tôi thấy mẹ khỏe ra. Mẹ ra dấu cho tôi đến gần rồi nhìn tôi với ánh mắt khác lạ, mắt mẹ rơm rớm. Mẹ dúi vào tay tôi tờ giấy bạc một đồng nhàu nhò rồi mấp máy: “Cho con ăn bánh”. Mẹ có tiền! Tôi không nghĩ mẹ có tiền, lại càng không nghĩ mẹ cho tôi tiền. Mẹ lại nằm thiêm thiếp. Mẹ ơi, mẹ cho con thật hả mẹ? Con đi ăn cháo nghen mẹ. Con đi ăn cháo đây. Trời ơi, làm sao tôi biết được giây phút lóe sáng của ngọn đèn sắp tắt. Cái giây phút tỉnh táo của mẹ là tàn lực của kẻ biết mình sắp lìa đời.

***

Tôi ngồi chễm chệ trên cái đòn rồi nói: “Bán cho con năm cắc cháo”. Như sợ bà hàng không tin, đưa trước tờ giấy bạc cho bà. Coi kìa, tô cháo đầy tú hụ, mấy miếng thịt trải lên trên, một miếng huyết đỏ au, thêm một chút hành ngò, một chút tiêu, chỉ mới nhìn thôi đã chảy nước miếng. Hai tay bưng tô cháo nâng cao, tôi dí sát mũi vào “công khai” hít một hơi thật dài, thật sâu. Chao ôi, cái mùi vị sao mà quyến rũ. Tôi chậm rãi ăn từng muỗng. Tôi nhai. Nhai. Nhai thật kỹ rồi mới nuốt. Tôi không biết nem công chả phụng ngon thế nào. Tôi không biết yến sào, vi cá ra sao nhưng tôi tin chắc những thứ ấy không thể nào sánh được với tô cháo này. Nó ngon không thể nào tả nỗi. Rồi tô cháo cũng hết. Tôi liếm cái tô rồi mút cái muỗng. Giờ thì cả tô lẫn muỗng đều sạch bóng như vừa được rửa xong. Nhìn cái muỗng sáng choang, trong đầu tôi chợt lóe lên một ý nghĩ: tôi muốn lấy cái muỗng này. Có cái muỗng tôi sẽ đút cháo cho mẹ. Có cái muỗng chắc mẹ sẽ ăn được chút ít. Tôi cuộn cái muỗng vào lưng quần, rón rén đứng dậy đi giật lùi vài bước rồi xoay người chạy biến. Tôi là thằng ăn cắp. Tôi đã ăn cắp chiếc muỗng. Tôi thấy lòng bức rức, mình đã làm tầm bậy. Bỗng tôi chợt nhớ ra, mình vẫn chưa lấy tiền thối lại, như vậy cái muỗng này đáng giá năm cắc. Thôi thế cũng được, chắc cũng chẳng bên nào bị thiệt thòi.

Chạy vào chưa tới cửa phòng tôi đã hét lên: “Mẹ ơi, mẹ ơi ! Con cho mẹ cái này”. Tôi sựng lại, nhìn chiếc giường trống trơn. Mẹ đâu rồi nhỉ? Mẹ tôi thì làm sao có thể đi đâu được chứ. Bà cụ nằm cuối phòng cất tiếng: “Mẹ cháu chết rồi, người ta mang đi chôn gần cả tiếng đồng hồ rồi”. Tôi sững người. Đêm hôm ấy tôi nằm co ro trên giường, hai tay ôm khư khư chiếc muỗng. Tôi suy nghĩ lung tung. Mẹ chết lâu không? Mẹ chết mấy ngày rồi mẹ trở lại? Tôi chìm dần, chìm dần trong mộng mị. Tôi chơi vơi, bềnh bồng…

Ánh sáng xuyên qua cửa sổ rọi vào mắt. Tôi choàng dậy, căn phòng trống trơn. Bà cụ nằm giường cuối chắc đã ra ngoài. Chiếc muỗng tôi yêu thích đã không cánh mà bay. Thế là mẹ đã bỏ tôi mà đi thật rồi. Chiếc muỗng cũng bỏ tôi mà đi rồi. Tôi không khóc. Mẹ thường nói: “Con trai con lứa mà khóc xấu lắm”! Tôi không khóc. Mà sao chiếc gối ướt đẫm thế này!

***

Tôi không biết tại sao mình có thể nằm đây. Tôi đang nắm sấp dưới gầm dãy ghế của toa tàu. Chắc hẳn đó là bản năng sinh tồn. Toa tàu hạng ba, ở giữa xếp ngổn ngang hàng hóa và hành lý, hai bên người ngồi ken cứng. Tôi nằm như thế để trốn người xét vé. Tàu lên đèo cà giựt, cà giựt, đã mấy lần đầu tôi va vào chân ghế đau điếng. Rồi tôi cũng theo được những người hồi cư về lại Dran.

***

(còn nữa)

Thứ Sáu, 26 tháng 3, 2010

Bên dòng Mai Nương (I)

Bên dòng Mai Nương là loạt bài thứ hai của tác giả Lamnguyen post trên một diễn đàn địa phương dưới tên Dran xưa, hết chuyện rồi thì mình kể chuyện tình. Phần một của loạt bài này có tên Dran xưa, chuyện nhớ đâu kể đó. Do có chút quen biết với tác giả, nên tôi đường đột post lại loạt bài này ở đây mà không xin phép. Quan hệ quen biết như thế này: Lamnguyen là ông nội của bạn Pi, mà bạn Pi thì gọi bạn Goldmund bằng ba! Tác giả Lamnguyen năm nay đã được bảy mươi ba cái xuân xanh, vẫn phóng xe máy vi vu và lướt nét ầm ầm.

Bên dòng Mai Nương kể về những sự việc diễn ra trên đường tản cư năm 1945 - hồi đó gọi là chạy giặc - khi tác giả Lamnguyen còn là một chú bé tám tuổi. Xuất phát từ Dran (thuộc huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng), những người tản cư chạy bộ về phía Phan Rang băng qua dòng sông Mai Nương. Tác giả khởi đầu cuộc tản cư cùng mẹ và em, để rồi khi kết thúc tản cư thì trở lại Dran một mình.

Trân trọng giới thiệu cùng các bạn.

***

BÊN DÒNG MAI NƯƠNG
Lamnguyen

Tôi sinh ra đời dưới một ngôi sao xấu. Mới lên tám tôi đã chịu cảnh mồ côi. Nhớ lại một sáng mùa thu năm ấy…

Mỗi khi nhắc đến mùa thu ta thường nghĩ về nắng vàng gió nhẹ. Bầy trẻ tung tăng cắp sách theo mẹ đến trường. Đêm về, trăng thu vằng vặc, có chú cuội cây đa. Có tiếng trống rộn ràng theo nhịp lân múa và bầy trẻ rước đèn chờ giờ phá cỗ. Không hề có an bình như thế. Đây, một mùa thu xám xịt. Thu khói lửa…

Mấy hôm nay súng nổ nhiều quá. Tiếng nổ đì đùng lúc nhặt lúc thưa, có lúc làm một tràng dài khiến ai nấy đều hoang mang lo lắng. Người ta truyền tai nhau: “Chạy giặc” . Chạy giặc? Hai từ thật lạ lẫm. Tôi chưa thể hình dung ra chạy giặc là như thế nào. Mẹ thu vén cả giang san vào một đầu thúng. Còn đầu thúng kia mẹ lót chiếc mền rồi đặt em tôi vào đó. Mẹ quảy gánh lên cùng lúc nắm lấy tay tôi rồi bắt đầu…chạy giặc. Tôi, một thằng bé suốt ngày tha thẩn quanh nhà xó bếp bỗng nhiên được chạy nghênh ngang ngoài đường. Tôi thích chí lắm. Nhìn ngang nhìn dọc, bọn trẻ cùng lứa cũng như tôi, vừa chạy lon ton vừa cười. Em tôi ngồi trong chiếc thúng vừa gục gặc đầu vừa cười như nắc nẻ. Đông. Vui. Chạy giặc thế này thì thích thật. Mà sao chạy lâu thế nhỉ? Tôi đã thấm mệt, đôi chân nặng dần mà chẳng thấy đoàn người dừng lại.

Hôm sau, chúng tôi dừng chân lại ở một làng quê hẻo lánh. Dran đây ư? Sao Dran hoang sơ vắng vẻ thế. Rải rác vài mươi liếp nhà tranh, thi thoảng mới thấy một ngôi nhà ngói. Đường sá vắng tanh. Chúng tôi tá túc tại nhà bà Bếp Ba, một bà cụ tốt bụng ở Xóm Làng. Bà có một đàn bò thường ngày thả rong ở triền núi, tối mới lùa về. Mấy hôm nay chộn rộn nên đàn bò bị nhốt trong chuồng. Suốt ngày hết long rong trong vườn tôi lại quanh quẩn bên chuồng bò. Tôi nghịch ngợm với mấy chú bê. Thấy vậy, bà bảo: “Hôm nào về bà cho một con đem về mà nuôi”. Bà nói đùa mà tôi tưởng thật, lại càng quấn quýt với đàn bò hơn. Cái xứ Dran khí hậu sao mà khắc nghiệt, gần nửa buổi sáng chưa thấy mặt trời, chiều chưa tắt nắng sương mù đã giăng phủ kín. Tiếng chim kêu vượn hú mới não nùng làm sao. Những tưởng tạm lánh đôi ngày rồi trở về phố thị. Ai dè…

Buổi trưa im ắng lạ thường. Tiếng gà gáy lạc điệu từ xa nghe rõ mồn một. Bỗng có tiếng loa vang. Mọi người đổ dồn ra đường. Trên bậc cấp cao nhất của ngôi chùa làng, một anh thanh niên vác chiếc loa thiếc dài ngoằng đang cố hết sức gào to: “Mặt trận Phi-Nôm (Fimnom) vỡ rồi, bà con mau tản cư”. Lặp đi lặp lại đôi ba lần rồi cả người và loa đều biến mất. Thế là, không ai bảo ai, kẻ gồng người gánh, đùm túm dắt díu nhau đổ dồn về miệt đồng bằng.

***

Lúc này đoàn người tản cư không còn chạy theo quốc lộ mà dạt lên rừng. Tôi vẫn chạy lúp xúp bên cạnh mẹ. Em tôi hai tay tì mép thúng, mở to đôi mắt tròn xoe, đen lay láy nhìn tôi, nó nghiêng bên này, ngoẹo bên kia, nheo nheo mắt như muốn trêu tôi. Em tôi dễ thương quá. Tiếng chân dẫm lên lớp lá thông khô nghe xào xạc. Đoàn người vẫn lầm lũi nối đuôi nhau như đoàn dân Do Thái đang tìm về miền đất hứa.

Tiếng súng nổ nghe giòn hơn, như gần hơn. Trên bầu trời nhá nhem, xám xịt, những tia lửa đạn đan chéo nhau như những dải pháo hoa. Đạn bay vèo vẻo, tiếng cành cây gãy đỗ phá vỡ sự im lặng của đoàn người đang câm lặng. Có tiếng ai gọi… chị ơi, chị ơi! Nhìn em bé thử… Mẹ tôi dừng lại, đặt gánh xuống, ngoái đầu rồi đổ sụm người ôm lấy chiếc thúng. Em tôi nằm ngoẹo cổ sang một bên, hai tay vẫn còn bám chặt mép thúng. Bất động. Máu đã thấm đẫm áo em. Còn mẹ tôi trong tích tắcnhư trở thành một con người khác. Mẹ già hẳn đi. Tóc tai rũ rượi, mặt mũi bơ phờ, gương mặt không còn thần sắc. Vài người dừng chân giúp mẹ đào một cái hố nông choẹt chỉ vừa chỗ đặt chiếc thúng rồi vội vội vàng vàng lấp lại qua loa, phủ thêm một lớp lá khô lên mặt. Tên bay đạn lạc đã cướp mất em tôi. Người ta lôi mẹ dậy. Bây giờ mẹ đội cả gia tài lên đầu, một tay nắm chặt tay tôi rảo bước. Tôi lê chân đi mà mắt cứ ngoảnh lại nhìn, tôi muốn xem thử em tôi có chạy theo không. Lòng tôi nặng trĩu. Em tôi mãi mãi nằm lại nơi này. Em tôi đã chết như thế đó, nó nằm khoanh tròn trong chiếc thúng như con chó đói.

***

Qua khỏi vùng rừng núi, đoàn người tản cư giờ lại chạy theo quốc lộ. Họ đã chia năm xẻ bảy thành nhiều nhóm, mỗi nhóm tùy chọn một nơi đến. Họ đi như bầy thú hoang cứ nhắm mắt theo con đầu đàn. Nhóm chúng tôi lớn nhỏ hơn hai chục người chuẩn bị vượt sông. Vượt sông. Dòng sông Mai Nương mùa này cạn ngắt. Người lớn lội qua chỉ quá gối còn lũ trẻ phải đến ngực. Mọi người giúp nhau qua dễ dàng. Trời tối dần, tối dần…Xuyên qua xóm dân cư thưa thớt, đoàn người cứ lầm lũi đi trên bờ ruộng. Cuối cùng rồi tất cả cũng dừng lại trong một khu rừng chuối. Tôi không thấy mẹ đâu nữa. Qua mấy ngày cùng chung hoạn nạn, ai nấy đều coi nhau như trong một đại gia đình. Mọi người trấn an, dỗ dành tôi. Không sao đâu, mẹ sẽ trở lại mà. Tôi ngồi thu lu suốt đêm bên gốc chuối. Chiều hôm sau, quả thật mẹ tôi đã trở lại. Vừa trông thấy, mẹ đã ôm chầm lấy tôi rồi khóc tức tưởi. Mẹ ôm chặt quá khiến tôi đau điếng, tôi cố vùng ra mẹ lại càng ôm chặt hơn cứ như mẹ sợ tôi trôi tuột đi mất.

Khu vườn chuối rộng thênh thang giờ đã thành một xóm ngụ cư. Mỗi gia đình chọn một góc,sắp xếp dọn dẹp để làm chỗ ở. Mẹ kéo lê những thân chuối ghép lại, trải lên thật nhiều lá khô, trên cùng là manh chiếu. Đó là tổ ấm của gia đình tôi. Hai mẹ con nằm dài lên đó, dang thẳng tay chân. Bao nhiêu mỏi mệt của mấy ngày qua rơi rụng dần dần. Tôi thiêm thiếp rồi chìm sâu vào giấc ngủ.

Từ trong khu vườn nhìn ra là cánh đồng bát ngát. Lúc này lúa đã chín vàng trĩu hạt. Mỗi khi làn gió nhẹ thổi qua sóng lúa lại dập dềnh, vài cánh cò trắng bay la đà khiến cho ta có cái cảm giác bình an. Dân địa phương đã vào mùa gặt. Ở những thửa ruộng đã gặt xong, nhóm người ngụ cư lại dàn hàng ra đi mót. Mỗi người một cái bị, họ nhặt nhạnh những hạt lúa rơi vãi, những tép lúa còn sót cho vào bị. Chính những hạt lúa mót này đã cho những con người khốn khổ đủ sống lây lất qua ngày.

***

Hôm nay có tát đìa. Đìa nằm ở rìa cánh đồng sát với xóm ngụ cư. Từ sáng sớm, một nhóm có hơn mười người kéo đến. Họ mang theo nào gầu, nào thùng, rổ rá… Theo lệnh của một người, chắc là chủ đìa, họ be bờ, tát nước. Gần đứng bóng nước đã cạn kiệt. Xem kìa, cá ơi là cá. Những con lóc, con trê, con rô thi nhau uốn mình nhảy đành đạch. Người ta xúc cá cho vào giỏ, vào thùng. Rõ ràng chủ đìa đã được một mùa bội thu. Khi bọn người tát đìa rút đi thì cũng là lúc gần như cả cái xóm ngụ cư đều nhảy ùm xuống nước. Người nào người nấy lấm lem từ đầu đến chân. Mẹ chộp được một con lóc bằng nắm tay chưa kịp vứt lên bờ thì chú cá đã vọt lại xuống sình. Một anh thanh niên gần đó vội tóm lấy. Mẹ tôi giành lại. Thế là “chiến tranh” xảy ra. Cãi cọ. La lối. Mẹ phùng mang trợn mắt như muốn ăn tươi nuốt sống đối phương. Trông mẹ thật dữ tợn. Cuối cùng rồi mẹ cũng lấy được con cá. Gương mặt mẹ tôi giãn nở, trở lại trạng thái bình thường. Mẹ nhìn tôi rồi nhoẻn miệng cười. Nụ cười mới ấm áp làm sao. Mãi sau này lớn lên tôi mới hiểu. Người mẹ nào cũng vậy, vì con, vì miếng ăn cho con, mẹ có thể làm bất cứ điều gì. Tôi được một bữa ăn đặc biệt. Mẹ nướng cá. Mùi cá thơm lừng lựng. Mẹ nói: “Giống cá đồng này xương dữ lắm!” Vừa nói mẹ vừa tỉ mẩn rút từng cái xương nhỏ, phần thịt cá mẹ dành cho con trai, còn mẹ nhai, mút những chỗ còn lại. Tôi đã từng ăn uống ở nhiều nhà hàng sang trọng, đã từng thưởng thức biết bao món ngon vật lạ nhưng chưa bao giờ tôi có lại cái cảm giác ngon miệng như bữa ăn trưa hôm ấy.

***

(còn nữa)



Thứ Năm, 10 tháng 12, 2009

Tinh thần đã mất

Có những buổi trưa như trưa nay tôi ra khỏi văn phòng sớm hơn thường lệ để đi ăn trưa mà không rủ đồng nghiệp nào theo cùng và cũng không hẹn hò với ai cả. Tôi chỉ muốn đi ăn nhanh và về lại văn phòng sớm để kịp cuộc họp trên điện thoại kế tiếp vào giữa trưa giờ Việt Nam. Tôi đi bộ và không chủ định sẽ ghé quán nào. Sài Gòn vẫn đang thay đổi từng ngày. Quanh khu trung tâm, chỉ vài hôm không để ý đã thấy mọc lên một quán cà phê hay quán ăn mới. 

Tôi đi ngược về hướng Nguyễn Du, ngang qua hàng miến chửi một thời (hay vẫn còn?) nổi tiếng. Buổi trưa, không nghe tiếng bà chủ véo von. Mấy cái xô không chỏng chơ trước hàng. Một vệt nước chảy dài từ ngạch cửa về phía mép đường, còn thấy rõ vài cọng rau và miến vụn. Không rõ trưa họ không bán hay là họ không còn khách. 

Chỉ thêm vài bước nữa, một quán ăn bên tay phải thu hút sự chú ý của tôi. Quán trông không khác mấy những quán cà phê kiêm phục vụ cơm trưa văn phòng thường thấy ở thành phố này; tuy nhiên, tôi đã kịp nhìn thấy dòng chữ Đặc sản bánh căn Phan Rang dưới mấy chữ Kul Deli màu tím uốn éo. 

Bánh căn là thứ bánh có nguồn gốc Phan Rang, nhưng hết sức gắn bó với những người dân Đơn Dương như tôi. Đơn Dương cách Phan Rang chưa tới 80 cây số. Nhiều người Đơn Dương có bà con họ hàng ở Phan Rang. Cũng có người Phan Rang lên Đơn Dương rồi mê con trai, con gái hay cái tiết trời quanh năm lành lạnh vùng này rồi ở lại luôn (má tôi là một trong số đó!). Đơn Dương và Phan Rang do đó thật là gần gũi, và chuyện món ăn của người Phan Rang trở thành món ăn “quốc hồn quốc túy” của người Đơn Dương kể cũng không lạ.

Bánh căn làm từ bột gạo. Gạo thường được ngâm từ đêm hôm trước rồi xay ra bằng cối đá thành bột bánh căn, nghe đâu muốn bánh ngon thì nên trộn vào gạo một ít cơm nguội. Gọi là bột nhưng nó là đã được hòa với rất nhiều nước, nên nó là một chứ chất lỏng màu trắng và hơi sệt. Mới nhìn, xô bột bánh căn trông giống như xô vôi quét tường. Nhìn kỹ, nó vẫn giống vôi quét tường, chỉ khác vôi không ăn được, còn bột bánh căn thì ăn được. Sau khi nướng chín, dĩ nhiên. 

Muốn đổ bánh căn phải có lò bánh căn. Lò được làm bằng đất nung. Mỗi lò có khoảng tám đến mười hai lỗ tròn cỡ miệng chén, đi kèm tương ứng số khuôn và nắp khuôn, tất cả đều làm bằng đất. Ngày trước, Đơn Dương hầu như nhà nào cũng có lò bánh căn trong nhà. Thỉnh thoảng có khách, tụ tập bạn bè, hoặc đơn giản chỉ là đổi món, lò bánh căn sẽ được lôi ra, than sẽ được quạt lên cho hồng và bánh căn sẽ bắt đầu được đổ. Món bột bánh căn trắng như vôi kia sẽ được rót vào từng khuôn, đậy nắp lại khoảng một hai phút thì rám vàng bên dưới. Khi đó, bánh sẽ được cạy ra, quết một chút mỡ hành hay mỡ hẹ, rồi ụp lại với một bánh khác thành từng cặp. Bánh căn bao giờ cũng ăn theo cặp. Cặp bánh căn sẽ được thả vào chén mắm nước hoặc mắm nêm pha loãng, dầm với một trái ớt chín đỏ vỏ mỏng. Dân Phan Rang còn ăn bánh căn với nước cá kho.

Ăn bánh căn không thể ăn nhanh vì muốn ăn nhanh cũng không có mà ăn. Thường mọi người sẽ ngồi quanh lò, ăn cặp bánh của mình xong thì có quyền đưa đũa lên miệng mút nước mắm mà chờ đến lượt bánh tiếp theo. Càng đông người ăn thì chờ càng lâu. Chờ càng lâu thì ăn càng ngon, càng nôn đến lượt mình để được cắn miếng bánh nóng giòn trong miệng, lẩn quất mùi thơm của khuôn đất nung, vị béo nhẹ nhàng của mỡ hành và mùi cay thơm của giống ớt đặc biệt ở Đơn Dương. 

Bánh căn đặc biệt ngon khi ăn vào những buổi chiều trời bắt đầu tối, sương bắt đầu xuống và cái lạnh cao nguyên bắt đầu len lỏi vào thịt da, vừa ăn vừa xuýt xoa bên bếp than hồng. Bánh căn cũng đặc biệt ngon khi ăn vào khuya, khi hầu hết mọi người đã đi ngủ, các ngôi nhà đã đóng kín cửa, chỉ có chị hàng bánh căn cần mẫn ngồi đổ bánh bên ngọn đèn dầu phục vụ những kẻ thèm ăn khuya. Bánh căn, suy cho cùng chỉ là bột gạo nướng ăn với nước mắm, sang cả hơn thì kèm xíu mại hay trứng, vậy mà dân Đơn Dương xa quê ai cũng nhớ. Cho đến thời củi quế gạo châu như bây giờ, đãi người yêu ăn một chầu bánh căn no căng bụng ở Đơn Dương vẫn không quá hai chục ngàn. 

Thế cho nên, hôm nay, khi nhìn thấy quán Kul Deli treo bảng bánh căn đặc sản Phan Rang, tôi rẽ vào ngay tắp lự. Cô bé phục vụ nhanh nhảu chìa menu cơm văn phòng cho tôi. Tôi khẽ khàng: Này em, hình như có bánh căn? Cô bé bảo dạ có, bánh căn bán từng phần 5 cái. Tôi hỏi 5 cái hay 5 cặp. Cô bé khẳng định 5 cái. Tôi thắc mắc ăn mấy dĩa mới đủ. Cô bé bảo một dĩa là đủ rồi anh. Ừ thì một dĩa, cho anh một dĩa. Vài phút sau, trước mặt tôi có hai chén, một chén nước mắm pha và một chén kia hình như là một loại tương đậu, một rổ rau gồm nhiều xà-lách, rau đắng, rau quế và có trời mới biết là rau gì nữa, và một dĩa gồm 5 cái bánh căn. 5 cái bánh được xếp vòng tròn trên dĩa, giữa mỗi cái thấy cộm lên hai khoanh mực ống và một con tôm. Điểm xuyết cho vòng tròn 5 bánh là một nhúm dưa leo và xoài sống xắt sợi. A ha, bánh căn là đây!

Tôi nhìn dĩa bánh căn và nghĩ về sự chuyển dịch của các vùng miền. Tôi nhìn dĩa bánh căn và nghĩ về đô thị hóa. Tôi nhớ trong Chiếc Lexus và cây Olive, tác giả Thomas Friedman kể chuyện khi đến một quốc gia lạ, gọi một món ăn tưởng quen, thì sẽ có được một thứ đáng kinh ngạc. Để có được trải nghiệm đó, cần gì phải đi từ nước nọ sang nước kia. Ngay ở Việt Nam thôi, người Sài Gòn ra Huế kêu bún bò thì phàn nàn bún bò Huế sao mà lạ lẫm, còn những người Hà Nội chân chính thì nhất quyết không nhận phở Sài Gòn làm anh em với phở kinh thành. Một món ăn đi từ vùng này sang vùng nọ trong cùng một nước đã trải qua bao nhiêu thay đổi, có khi chỉ để vừa lòng thực khách địa phương. Món bánh căn dân dã quê tôi, để trèo lên bàn một quán ăn ở trung tâm Sài Gòn, đã phải cõng thêm những tôm, những mực và bao nhiêu loại rau xa lạ. 

Nói cho công bằng, món bánh căn ở Kul Deli không dở. Nó chỉ không đúng so với kinh nghiệm của tôi. Có thể với nhiều người khác nó sẽ ngon hoặc rất ngon, hoặc ít ra cũng mang đến cho thị dân Sài Gòn một chút hương xa. Còn với tôi, dĩa bánh căn này trông cũng giông giống bánh căn, chỉ hiềm nỗi cái tinh thần đã mất. 

---------
Hình ảnh và bài viết về bánh căn bên nhà Chị Ba Đậu, một người đồng hương và bạn từ thuở thiếu thời của tôi.

Thứ Năm, 4 tháng 6, 2009

Một vài hình ảnh Ðơn Dương




Sau khi tôi viết bài tản mạn về Đon Dương, tôi có gửi đi bài viết bằng email cho một số người Đơn Dương. Môt vài ngày sau, tôi nhận được những bức ảnh sau từ một người Đơn Dương (mà tôi gọi là bố). Có lẽ đều là ảnh sưu tầm nên không rõ tác giả. Tôi mạn phép post lại ở đây, nếu tác giả trông thấy hy vọng cũng sẽ bỏ qua hành vi vi phạm bản quyền này.

Các bạn sẽ thấy trong những bức ảnh này hình ảnh một chiếc cầu bằng sắt. Đó là chiếc cầu nằm trên tuyến đường xe lửa độc đáo Tháp Chàm – Đà Lạt khi xưa. Theo thông tin tôi nhặt được trên internet, tuyến đường sắt Tháp Chàm - Đà Lạt do người Pháp xây dựng, hoạt động từ năm 1928, có chiều rộng 1m, chiều dài 84km, trong đó có 2 đoạn đường răng cưa leo đèo Sông Pha dài khoảng 14km. Đó là tuyến đường sắt răng cưa duy nhất tại Việt Nam, và là một trong ba tuyến đường sắt răng cưa trên thế giới (hai tuyến kia ở Thụy Sĩ). Hư hỏng trong chiến tranh, tuyến đường này ngừng hoạt động kể từ năm 1968.

Chiếc cầu sắt, được bao nhiêu nhiêu thế hệ người Đơn Dương coi là biểu tượng của Đon Dương, vẫn thơ mộng đứng trên dòng sông Đa Nhim cho đến ngày ngành đường sắt Việt Nam gỡ ra bán sắt vụn mà địa phương không kịp trở tay. Di tích lịch sử có thể không bị hủy hoại bởi chiến tranh, rốt cuộc lại bị hủy hoại vì sự ngu dốt, thiển cận của con người.

Nghe đâu, ngành giao thông vận tải đang có kế hoạch phục hồi tuyến đường này với ngân sách lên đến 5.000 tỷ đồng. Với rất nhiều tiền, tuyến đường có thể sẽ trở lại. Tuy nhiên, có những thứ đã mất đi rồi thì sẽ mãi mãi không mua lại được. Cho dù với bao nhiêu tiền.




Posted by Picasa

Xem thêm:

Thứ Tư, 27 tháng 5, 2009

Viết cho Đơn Dương



Tôi sinh ra và lớn lên ở thị trấn Dran, huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng.

Nhắc tới Lâm Đồng, người ta thường chỉ biết đến Đà Lạt. Đà Lạt quá nổi tiếng rồi, dù rằng cũng như rất nhiều trường hợp nổi tiếng khác, nổi tiếng chưa chắc đã có nghĩa là “hay”.

Đơn Dương ít người biết đến, trừ những người sinh ra và lớn lên ở…Đơn Dương. Nổi tiếng nhất ở Đơn Dương có lẽ là đập thủy điện Đa Nhim. Thời lâu lắm rồi, thủy điện Đa Nhim, vốn được người Nhật xây để bồi thường chiến tranh, được xếp vào hàng lớn thứ ba cả nước. Sau này, với sự ra đời của Trị An, Hòa Bình, Ya Li..., Đa Nhim không biết được xếp hạng thứ mấy. Dẫu sao Đơn Dương vẫn được coi là quê điện. Điều đó không ngăn cản quê điện bị cúp điện thường xuyên, có khi đến ba ngày một tuần, chắc là để nhường cho những thành phố lớn, Sài Gòn chẳng hạn, lấp lánh ánh đèn hoa lệ hằng đêm.

Thị trấn Dran là “thủ phủ” của Đơn Dương. Giống như người Sài Gòn gọi quận I là Sài Gòn, người Đơn Dương gọi Dran là Đơn Dương. Điều này có nghĩa ở Thạnh Mỹ (kiểu như Gò Vấp), Ka Đơn (kiểu như Bình Chánh) mà muốn ra Dran, người ta sẽ rủ nhau: “Đi Đơn Dương chơi không?”. Trong bài viết này kể từ đây trở đi, khi nói tới Đơn Dương bạn sẽ hiểu tôi đang nói tới Dran, “thủ phủ” của Đơn Dương, nơi có ba con đường (Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Hai Bà Trưng) và một cái bùng binh (mà dân địa phương khi chạy xe không bao giờ đánh vòng quanh), sau này được bổ sung thêm một số tên đường cho dù không có con đường nào mới mở.

Ai hỏi Đơn Dương ở đâu, tôi sẽ chỉ đường như thế này: Anh/chị/bạn đi Đà Lạt chưa? Thế này nhé, từ Sài Gòn đi Đà Lạt, khi còn cách Đà Lạt khoảng 25 cây số, sẽ có một ngã ba tên là ngã ba Finom. Thay vì rẽ hướng lên Đà Lạt, anh/chị/bạn rẽ hướng kia, đi khoảng 25, 26 cây số sẽ tới Đơn Dương. Đơn Dương rất nhỏ, nên bạn đừng đi nhanh quá coi chừng vuột mất. Đi thẳng đường đó, bạn sẽ đổ đèo Ngoạn Mục xuống Song Pha rồi Phan Rang.

Đà Lạt cao 1,500 mét so với mặt nước biển. Đơn Dương thấp hơn 500 mét, nghĩa là vẫn cao khoảng 1000 mét so với mặt nước biển. Nhờ đó, Đơn Dương có một khí hậu tuyệt vời. Mùa Đông, nhiệt độ sáng sớm và tối khoảng 15 độ, ban ngày khoảng 20-22 độ C. Mùa hè, giữa trưa, nhiệt độ trong nhà ít khi vượt quá 28 độ. Ở Sài Gòn, buổi tối đi ngủ tôi mở máy lạnh ở mức 27 độ C. Từ khi có con, tôi mở mức 28 độ C vì sợ bé nhiễm lạnh. So sánh thế để biết, Đơn Dương là một cái máy lạnh khổng lồ, chẳng những không tốn điện, mà còn hết sức “sinh thái”, phù hợp với với những tiêu chuẩn văn minh nhất về môi trường. Cái máy lạnh ấy có cái nhiệt độ tự nhiên của trời đất, có cái gió rì rào triền miên của những đồi thông vây quanh.

Đơn Dương là một thung lũng. Đứng bất cứ chỗ nào ở Đơn Dương, nhìn đi hướng nào bạn cũng thấy đồi thấy núi. Những đồi thông, những đồi thông. Khi còn bé, tôi thường theo anh leo lên một trong những đồi thông quanh thị trấn lấy củi. Chúng tôi không bao giờ mang giày. Vào những năm 80 ấy, giày là một khái niệm xa lạ đối với trẻ con và phần đông người lớn. Chúng tôi đi chân không trên những đoạn đường nhựa nóng bỏng, trên những đoạn đường đất nho nhỏ men chân đồi lấp xấp cỏ ống, cỏ gà, cỏ mực, lội qua một con suối rồi trèo lên một, hai, ba, hoặc bốn con dốc. Chúng tôi tìm những thân cây đã gãy khô, chặt ra một đoạn vừa sức vác rồi mang đi. Đi trong núi, tôi có những cảm giác kỳ lạ mà mãi mãi về sau này tôi không bao giờ có được. Thông cứ reo rì rào như lúc nào cũng có ai đó đang nói chuyện, mùi nhựa thông phảng phất, bước chân chúng tôi trệu trạo trên lá thông khô, trên đá dăm. Đá dăm có thể găm vào gót chân chúng tôi, những gót chân bao giờ cũng nứt nẻ, có khi bật máu vào mùa đông. Ấy là mãi sau này khi đã thành người thành phố có gót chân mịn màng tôi mới nhớ lại, chứ ngày ấy tôi không để ý. Má tôi cũng không để ý. Chẳng ai để ý cả, vì hầu như gót chân ai cũng nẻ.

Những đồi thông bây giờ vẫn còn đấy, nhưng cây đã trở nên thưa nhiều vì năm nào cũng cháy rừng, rồi người ta phá rừng làm rẫy, làm nhà. Bây giờ chẳng mấy ai nấu củi nữa, nhà nào cũng xài bếp ga hay điện, trẻ con không còn phải đi lên núi. Thay vào đó, chúng đi chơi game. Chơi game, nếu không nghiện cũng không có gì xấu. Chỉ có điều chúng không có cơ hội leo núi, không được đứng giữa đồi thông để nghe thông rì rào, không được nằm trên thảm lá thông để ngắm nắng lọt qua tán cây, và cũng không bị đá dăm găm vào chân. Chúng có mơ mộng như tôi không?

Đon Dương, mùa mưa. Đã bao nhiêu năm rồi tôi không về Đơn Dương vào mùa mưa? Hỏi là để nhớ. Nhớ năm nào tháng chín, cứ vào mùa tựu trường là mưa dai mưa dẳng. Mưa một tuần, mưa hai tuần thậm chí cả tháng liền, hầu như không dứt. Mưa lúc to, lúc nhỏ, rỉ rả suốt ngày, rả rich suốt đêm. Đất đỏ từ những triền đồi chảy khắp mặt đường, những con đường bẩn và hẹp càng trở nên bẩn hơn, hẹp hơn. Ai ra đường cũng quần xắn quá gối, lùng nhùng trong một đống áo mưa. Đơn Dương ngày trước nhiều nhà làm bằng gỗ, mưa thấm vào gỗ sau nhiều ngày toát ra mùi hăng hắc. Cái mùi ấy theo tôi cả đời. Ngay lúc này đây, nhắm mắt lại, hít vào nhè nhẹ, là tôi hình dung ra mùi ấy ngay. Mùi của một ngôi nhà, mùi của một vùng quê, đã thấm vào người không bao giờ dứt được. Hình dung ra mùi ấy tôi cũng hình dung ra gương mặt ba má, anh chị tôi , rồi thầy cô, bạn bè cũ. Rồi hình dung ra cái hồ xi măng chứa nước mưa sau nhà, ra cái máng xối nghẹt đầy lá vú sữa, ra con mương trước nhà nước tràn be, đỏ quạch. Lần gần đây nhất về nhà con mương ấy đã được lấp xi măng rồi, không biết bây giờ trời mưa nước chảy đi đâu.

Đơn Dương, mùa đông, mùa đẹp nhất năm khi hơi lạnh treo trên từng hơi thở, khi đầu ngọn cỏ lóng lánh sương, bầu trời xanh trở nên khoáng đạt, nắng óng như rơm. Và hoa quỳ vàng. Hơn một người đã phải lòng cái màu vàng của hoa quỳ miền cao nguyên vốn chỉ nở rực vào những ngày lạnh nhất... tháng mười một, tháng mười hai. Càng lạnh hoa càng rực rỡ. Tháng mười hai qua, hoa rụi dần. Để rồi Tết đến, khi trăm ngàn loại hoa khác đua nhau khoe sắc, thì những cụm hoa quỳ ven triền đồi chỉ còn trơ lõi, xấu xí, thảm hại. Hoa quỳ là sứ giả của mùa đông cao nguyên. Mùa đông không có nhiều sứ giả, nên hoa quỳ là sứ giả hiếm hoi và độc đáo. Du khách đến trầm trồ đã đành, dân bản xứ tha hương, cứ những ngày tiết trời se se lạnh lại bồi hồi nhớ cái màu vàng ấy. Cái màu vàng bàng hoàng những triền đồi. Ngày xưa, có anh chàng sinh viên đi học đại học ở Sài Gòn, hứa với một cô bạn rằng về quê ăn Tết xong sẽ mang hoa quỳ vào, nhưng Tết xong thì làm gì còn hoa quỳ. Anh chàng đâm ra thơ thẩn:

“Khi anh về hoa quỳ thôi nở
Còn biết tìm đâu quà tặng em
Anh xoa tay cho ấm mùa nắng vỡ
Ngủ trong mây một áng trăng mềm”

Đơn Dương, tôi đã đi xa nhiều năm rồi. Mỗi năm trở về thấy đường phố nhiều ổ gà hơn, bụi nhiều hơn, cả thị trấn mòn đi, cũ đi. Người trẻ đi xa, người già ở lại. Cái rạp xi-nê duy nhất của thị trấn, luôn đông nghẹt người những năm tám mươi bị bỏ hoang, khai ngáy. Thị trấn không còn hiệu sách, không còn sân banh, công viên thì chưa bao giờ có. Tôi đứng trước sân nhà, mắt nhìn về phía núi, cố nhìn ra những con dốc mình đã leo ngày xưa. Tôi đã đi và leo nhiều con dốc khác trong cuộc đời, tuy chưa đến đỉnh nhưng chắc chắn không còn trong thung lũng. Mắt tôi nhìn bốn phía không còn bị chắn bởi những đồi những núi, nhưng lòng tôi sao vẫn mãi hoang mang?

Tháng 5/2009