Tuesday, 10 June 2014

Ngắm Orhan Pamuk chạm trổ thời gian

Ngắm Orhan Pamuk chạm trổ thời gian

Nguyễn Vĩnh Nguyên

(TBKTSG) - Có vẻ như những cuốn tiểu thuyết của Orhan Pamuk (Nobel văn chương 2006) phù hợp để đọc vào những ngày mùa đông giá lạnh, lúc một mình thư thái hơn là những ngày hè nóng nực, giữa chốn xô bồ. Càng không thể đọc khi chưa hoạch định cho mình một quỹ thời gian nhất định, “dọn mình” để chìm đắm vào những trang văn tinh vi khắc kỷ.

Nhiều người không đọc được Tên tôi là Đỏ, Tuyết, Pháo đài trắng hay kể cả cuốn Hồi ức Istanbul (đều đã dịch sang tiếng Việt) viết tỉ mỉ quá mức về những thứ trong thư viện, bảo tàng gia đình, căn phòng, ngôi nhà, đường phố, cảng thị, quán xá, con người nơi nhà văn lớn lên và gắn bó tới mức chưa từng nghĩ sẽ có ngày xa rời nó.

Cũng phải cảm thông cho những độc giả không chuyên - vì chắc rằng, kể cả những con mọt sách cũng có khả năng trở thành kẻ dối lòng nếu nói chưa từng rơi vào cảm giác sốt ruột khi đọc sách của nhà văn người Thổ Nhĩ Kỳ này.

Nhưng rồi cũng có một điều chắc chắn, văn chương của Orhan Pamuk khiến người ta nghiêm túc hơn trong việc đọc. Và nhất thiết bản thân người đọc phải xác lập một hệ trục thời gian khác để bước vào những trang sách đang tĩnh tại mời gọi, khiêu khích chúng ta thâu tóm, chiếm lĩnh chúng theo một cái duyên ngầm ẩn nào đó rất khó lý giải.

Trước hết, để hiểu Pamuk-nhà văn, hãy hiểu một Pamuk-người đọc. Ở cuốn tiểu luận Những màu khác mà ông gọi là những phân mảnh, người đọc gặp Orhan Pamuk là một người đọc trung tín, độc lập phía sau một nhà phê bình sắc sảo khi ông “note” (ghi chú) việc đọc tác phẩm của những nhà văn giàu cá tính: Thomas Bernhard, Salman Rushdie, Albert Camus, Nabokov hay Dostoyevsky...

Thông qua ghi chép về việc đọc, cách đọc của Orhan Pamuk, ta hiểu thêm về quan niệm viết văn, quan niệm tiểu thuyết của ông. Trong Cái thú đọc sách, Pamuk viết về ấn tượng khi đọc Tu viện thành Parme của Stendhal: “Nói cho cùng, một tiểu thuyết tuyệt diệu trở thành một phần không tách rời của cuộc sống và thế giới quanh ta, mang ta lại gần hơn ý nghĩa cuộc đời; nó đến thế chỗ cho niềm hạnh phúc ta có thể chẳng bao giờ tìm thấy trong cuộc sống để trao ta niềm vui sướng xuất phát từ ý nghĩa của nó”.

Mối tương quan nhà văn với chính trị, trí thức với xã hội cũng được ông đề cập nhiều trong phần Chính trị, châu Âu và những vấn đề khác của việc là chính mình. Tại đây, con người văn chương thuần túy tưởng đóng cửa im ỉm trong bốn bức tường, say sưa với các món cổ ngoạn, tô vẽ cho những tiểu họa chữ nghĩa như Orhan Pamuk vẫn không tách rời thái độ chính trị, trách nhiệm trí thức trong bối cảnh hiện đại của Thổ Nhĩ Kỳ.

Về mặt cấu trúc cuốn sách Những màu khác, không phải vô tình khi Orhan Pamuk đưa bài “Ông viết cho ai?” vào sách. Trước câu “chất vấn” thường thấy của các phóng viên - ông viết cho ai?, ông bàn sâu vào đối tượng độc giả mà một nhà văn ngày nay hướng đến.

Nếu ở thế kỷ thứ 19, nghệ thuật tiểu thuyết cơ bản là nghệ thuật quốc gia; Dickens, Dostoyevsky hay Tolstoy xác định viết văn cho một tầng lớp trung lưu đang trỗi dậy, đọc và viết tiểu thuyết là tham gia cuộc thảo luận trên toàn quốc về những vấn đề hệ trọng của đất nước, thì trong hiện tại, sự kết hợp giữa chủ nghĩa hiện đại và nghệ thuật tiểu thuyết vừa mang lại cho văn chương văn học một vị trí cao quý, vừa đặt nhà văn vào một thế lưỡng nan, thử thách: trung thành với chủ nghĩa quốc gia, phục vụ độc giả địa phương hay hướng tới đối tượng đọc toàn cầu hóa; vì những vấn đề chính trị bản địa, bản sắc hay tách rời truyền thống văn hóa để hướng đến những thế giới giao cảm xa lạ khác?

Cuối cùng, từ một cảm quan “đầy bất ổn về trật tự văn hóa mới”, câu trả lời của Orhan Pamuk là: “Chẳng lấy đâu ra một người đọc không bị ràng buộc bởi những cấm đoán xã hội và huyền thoại quốc gia, cũng như không thể tồn tại cái gọi là tiểu thuyết gia lý tưởng. Nhưng - cho dù là quốc gia hay quốc tế - chính là vì các độc giả lý tưởng mà các tiểu thuyết gia viết văn, trước hết bằng cách tưởng tượng người đọc đó hiện hữu, và rồi bằng cách viết sách với người đọc đó trong đầu” (trang 285).

Và, như những đoạn nhạc dạo thong thả, một lần nữa, Orhan Pamuk sẽ lại thử thách ta trong những trang viết tỉ mỉ về bìa sách, chuyện loại bỏ những cuốn sách khỏi thư viện, chuyện con hải âu đậu ngoài cửa sổ, con hải âu già đi và chết như thế nào...

Orhan Pamuk trình hiện trước mắt ta những tảng thời gian được chạm trổ thành khối, mỗi đường nét của nó có sức phản chiếu nội tâm trung thực nhất, vi tế nhất, ngay cả khi ông chủ ý gọi đó chỉ là những phân mảnh rời rạc.

Đọc ông trong một thư viện vào một sáng mùa đông tĩnh lặng, có thể bạn sẽ nghe được tiếng rì rầm của những cuốn sách trên kệ trò chuyện với nhau. Đó là niềm vui sướng và cũng là cái giá khi trở thành “một độc giả lý tưởng”.

(Đọc Những màu khác, Orhan Pamuk do Lâm Vũ Thao dịch, Nhã Nam & NXB Văn học, 2013, 482 trang, giá bìa 120.000 đồng)

http://www.thesaigontimes.vn/113542/Ngam-Orhan-Pamuk-cham-tro-thoi-gian.html
 

Monday, 19 May 2014

Taxi

Tôi chả nhớ đích xác lần đầu tiên mình đi taxi là khi nào, nhưng tôi chắc chắn rằng đến bây giờ mình phải có trên hai mươi năm kinh nghiệm đi taxi chứ không ít. Từ khi chưa đi taxi lần nào tôi đã biết taxi là một phương tiện tốn tiền, nhờ vào sách Streamline English. Cái thời tôi bập bẹ tiếng Anh, cả nước học cùng một giáo trình Anh ngữ. À, có thể hai, ngoài Streamline English còn có New Concepts, cả hai đều có những băng cát-sét sang đi sang lại chục lần, nghe tiếng người nói thì ít, tiếng rọt rẹt thì nhiều, đâm ra có một thế hệ nói tiếng Anh mở mồm ra toàn ọt ẹt. Sách Streamline English có một mẩu hội thoại đại khái một cô bảo anh đi taxi đi thì anh kia trả lời tao ếch phải là mi lơ ne. Từ đó tôi hiểu rằng phải mi lơ ne mới đi taxi được, nên dân Việt bây giờ hầu như ai cũng [từng] đi taxi.

Tôi ghét mọi sự khát quát hóa vội vàng, nhưng tôi tin quan sát taxi cho ta biết khá nhiều điều về một thành phố. Ở Brisbane, Úc, các bác tài taxi thường rất lịch thiệp, khách ngồi lên taxi rồi, đợi khách thắt dây an toàn xong sẽ nhã nhặn hỏi, “Where are you travelling today?”. Thời tôi mới sang Úc, do ảnh hưởng của sách Streamline English, nên cứ tưởng họ hỏi mình tính du lịch ở đâu. Mất một thời gian tôi mới nhận ra “travel” không nhất thiết phải là “du lịch” mà đơn giản chỉ là đi. Ở Singapore, tài xế taxi thường là các bác người Hoa già, nói tiếng Anh đậm giọng Hoa, phóng xe rất nhanh, thái độ cũng rất chuyên nghiệp, nhận thanh toán bằng thẻ tín dụng. Ở New York, giữa hành khách và tài xế, có một tấm kính chắn lên ắt vì tỷ lệ tội phạm cao ở đây, khách và tài xế giao tiếp với nhau thông qua mấy cái lỗ thông hơi . Tài xế taxi ở Mỹ gọi khách bằng sir, lịch sự nhưng không vồn vã, và dĩ nhiên khi xuống xe chớ quên tiền tip. Tài xế taxi ở Thượng Hải hay Quảng Châu thì ưa đổi làn liên tục, hình như triết lý của họ là làm đầy mọi khoảng trống, nên thấy bất cứ khoảng trống ở bất cứ làn nào là lao vào ngay. Triết lý này phù hợp với những người thiếu kiên nhẫn nhưng không thích hợp lắm với hội tiền đình.

Tài xế taxi ở Sài Gòn những năm trước thì có tật ưa để tổng đài kêu rột rẹt, nhưng giờ thì đỡ nhiều rồi. Lên taxi ở Sài Gòn, thường khách là người nói nơi đến, vì các bác taxi Sài Gòn nhìn chung khá kiệm lời. So với taxi Hà Nội chẳng hạn, thì các bác tài Sài Gòn đã ít bấm còi hơn rất nhiều, và nói chung là không có kiểu đá đèn đòi vượt liên tục. Tài xế taxi ở Đà Nẵng và Hội An lái xe lành, dễ thương, tuy nhiên vẫn có tật ưa bấm còi.

Mặc dù vậy, vô địch thủ về bấm còi vẫn là taxi Hà Nội. Các bác tài ở đây cũng rất ít kiên nhẫn, ưa đổi làn, và ưa chạy sát đít xe trước và nhá đèn. Họ cũng tích cực tham gia câu chuyện của khách. Nhiều lúc khách đang say sưa nói chuyện với nhau, chợt giật mình cái độp vì từ ghế trước bác tài hào hứng lên tiếng góp chuyện. Khi không góp chuyện, thì họ có thể gọi điện thoại, có khi còn nhắn tin, hoặc cao hứng cất tiếng hát. Có lần, trên đường từ sân bay về, bác tài của tôi liên tục gọi điện cho ai đó để hẹn điểm đón khách. Tôi bảo anh đang chở khách đây, khi nào khách xuống rồi thì anh hãy lo tìm khách khác chứ. Bác tài nghe chừng rất ngạc nhiên, bảo phải lo trước để khách này xuống thì có khách khác ngay. Anh chăm tăng gia sản xuất thế, vợ con ắt rất vui, riêng khách thì không vui lắm vì sợ anh ủn đít xe trước hay lủi vào con lươn.

Vậy hơn hai mươi năm kinh nghiệm đi taxi có ích gì? Thật ra cũng chẳng ích gì, ngoài việc giúp gõ được vài dòng gọi là mua vui cũng được một vài phút nghỉ trưa.

Friday, 2 May 2014

Giai cấp công nhân tiên tiến

Hôm nay, thứ sáu ngày 2/5, ngày Quốc tế các Công chức, Viên chức, giai cấp công nhân tiên tiến do không phải công chức viên chức nên vẫn đi làm. Đường vắng như ngày giáp Tết, nên chẳng mấy chốc giai cấp công nhân đến văn phòng, sớm hơm ngày thường những mười lăm phút. Văn phòng cũng vắng, giai cấp công nhân bèn review nhà sách Fahasa Nguyễn Huệ mới khai trương.

Chuyện là người công nhân nghe báo đài nói Fahasa khai trương nhà sách mới ở 40 Nguyễn Huệ nên xăng xái đi xem. Đến nơi, hóa ra nó chính là nhà sách Fahasa Nguyễn Huệ cũ, chỉ mông má lại chút ít, thế mà cứ ầm ĩ khai trương với chả khánh thành. Nhà sách bình mới rượu cũ, bình cũ rượu mới này về cơ bản không khác gì nhà sách trước đây, vị trí các phân khu sách vẫn thế, phong thủy vẫn ở chỗ phong thủy, đồ chơi vẫn ở chỗ đồ chơi, chỉ trông sáng sủa, sạch sẽ hơn vì mới được tân trang nội thất. Chắc ai đó vẫn tiếc mấy tấm thảm đỏ đỏ cũ cũ bẩn bẩn, nên đôi chỗ vẫn để lại như xưa, nhìn vào rất miên man ký ức. Một số kệ được dẹp bớt, chừa chỗ cho lối đi, nên trông thoáng hơn. Sách có cố sắp xếp để dễ nhìn hơn, các đầu sách cùng tác giả được xếp gần nhau, nhưng nhìn chung vẫn không hiểu được xếp theo trật tự nào, muốn tìm một đầu sách nhất định thì không có cách nào ngoài việc rảo hết các dãy kệ.

Sách ngoại văn dồi dào hơn trước. Khu tiểu thuyết, trước đây thường chỉ có sách trinh thám, hình sự và tiểu thuyết classic, thì nay có khá nhiều tiểu thuyết văn học đương đại. Một số tác giả được ưu ái khác thường: John Banville, Cormac McCarthy, Breathe Easton Ellis, Don Delillo mỗi người có năm bảy đầu sách. Có cả Essays in Love của Alain de Botton, The Savage Detectives của Roberto Bolano, Three Strong Women tức Ba phụ nữ can đảm của Van Ho. Đặc biệt, có tới bốn cuốn của Cees Nooteboom, nhà văn Hà Lan, mấy lần ngấp nghé Nobel. Giá các cuốn này đều khá mềm so với giá bán ở nước ngoài, thậm chí mềm so với sách Việt của NXB Trẻ hay Phương Nam. Cuốn The Savage Detectives đâu có hơn hai trăm ngàn, còn Blood Meridian của Cormac McCarthy có trăm chín chục.

Giai cấp công nhân đi về mà không mua cuốn nào, trừ bốn tập Doraemon cho giai cấp công nhân con. Trước đây, Fahasa mà lòi ra một đầu sách như thế thì biết tay chàng. Nhưng bây giờ, hơi nhiều lựa chọn tí, chàng đâm chảnh, tự nhủ, nhiều cuốn hay ho thế, chắc chả ai mua, lúc nào mình mua chả được. Về nhà, giai cấp công nhân lôi từ kho sách 3.000 cuốn của mình ra, bắt đầu đọc The Spy Came In From the Cold. Phê phê là.