Sunday, 15 May 2016

Một buổi ra mắt sách




Môt tối cuối tuần nọ tôi đi dự một buổi ra mắt sách ở một tiệm sách mới khai trương qua lời mời trên trang Facebook của tiệm. Tiệm là  một căn hộ cũ nằm trong một con hẻm nhỏ , vài kệ sách quanh tường, một bàn lớn với mấy bình hoa giữa phòng, chủ và khách có thể quây quần xung quanh, vừa trò chuyện vừa uống trà ăn kẹo.  Sách là một cuốn sách của một tác giả đoạt giải Nobel từ lâu lắm rồi, nay mới được dịch ra tiếng Việt, do một công ty sách ít người biết đến tổ chức ấn hành. Hai vợ chồng chủ công ty, cũng là hai phần ba quân số của công ty, đã lập công ty gần bảy năm. Trong bảy năm đó, họ ra được mười đầu sách. Lần này, họ ra được hai cuốn, có lẽ lần ra mắt sách lớn nhất của công ty.

Buổi ra mắt không có MC. Khách uống trà, xem sách mãi mà buổi trò chuyện vẫn chưa chính thức bắt đầu, vì không ai biết cách bắt đầu như thế nào. Chủ tiệm, một cô gái trẻ, được mời nói vài lời mở đầu thì một mực giãy nãy, em không biết nói gì đâu ạ. Khách khứa, độ hơn hai mươi người ngồi rải rác quanh phòng, mỉm cười. Chị chủ công ty đành phải bắt đầu buổi nói chuyện. Chị bảo, các bạn ơi, yên lặng để nghe chúng tớ nói chuyện nhé.  Rồi khi thì xưng “chúng tớ”, khi thì xưng “bọn mình”, chị nói vài lời không thật sự có đầu đuôi về công ty của "chúng tớ". Được đôi câu, chị bỗng nghẹn giọng, nước mắt chảy ra, phải vội cầm khăn giấy. 

Đến lượt anh, chồng chị, và là dịch giả cuốn sách, cũng nhận mình là người không quen nói trước đám đông. Anh ngập ngừng, ngắc ngứ, nhưng khi đã vào guồng, anh nói rất say sưa về cái duyên của mình với những cuốn sách, về những cuốn sách anh đọc được nhiều năm trước khi học ở nước ngoài, về những cuốn sách giúp anh vượt qua những khúc quanh trong cuộc sống và tâm niệm phải cố dịch ra tiếng Việt để chia sẻ cùng mọi người, về những điều tâm đắc trong cuốn sách anh dịch. Có những quãng im lặng dài khi anh ngưng nói, mà khách cũng không nói gì, mọi người chỉ chăm chú hướng về anh. Thế rồi anh lại nói tiếp, cũng say sưa.

Cứ thế, buổi trò chuyện với rất nhiều quãng lặng kéo dài hơn một tiếng rưỡi. Lúc đó là quãng tám giờ, tám rưỡi tối, khách chắc ai cũng đói, nhưng không ai về sớm. Tôi nghĩ ai cũng thu nhặt được một điều gì đó trong buổi ra mắt sách rất là không kinh điển này. Buổi ra mắt không có ai huyên thiên, không có lời nào khách sáo, chỉ có những lời mộc mạc, chân thành.

Khách đến dự hầu hết là những bạn trẻ. Trông họ thật tươi tắn và sáng láng. Có một bạn chia sẻ với diễn giả về quan niệm sống, về Phật giáo. Cứ tưởng bạn ít ra đã là sinh viên năm cuối, hóa ra hỏi mới biết cậu mới học năm nhất ngành Kỹ thuật Công nghiệp. Ra về, cậu mua cuốn Văn học và cái ác, đây là cuốn sách tôi đã đọc vật vã mãi mà không chắc hiểu được mấy phần. Nói chuyện thì dẫn Phật, dẫn Nietzsche, nhưng trước lúc ra về thì cậu chỉ băn khoăn là không biết ba mẹ có đợi cơm không.

Đi một buổi như thế này, gặp những con người như thế này, trên đường về lòng cảm thấy thật dễ chịu.

Quân Khuê

Friday, 8 April 2016

Tháng Tư về



Khi những náo nhiệt của hội sách đã qua, khi không còn phải mướt mồ hôi, chen chân chọn mua sách...giảm giá, ắt là đã đến lúc ngồi lại, thật sự cầm những cuốn sách lên và đọc. Xin giới thiệu một số cuốn sách mới được tung ra trong hội sách vừa rồi.

Thuốc mê, tiểu thuyết của Thâm Tâm

Có một Thâm Tâm thi sĩ đã quá nổi tiếng với Tống biệt hành và những giai thoại gắn liền với TTKH. Khó hình dung ra chàng thi sĩ u uất và u sầu (trong thơ) ấy từng viết tiểu thuyết. Cũng khó hình dung ra làng quê Việt Nam từng có những tục như được kể trong Thuốc mê, nhất là với người đọc ngày nay. Đó là câu chuyện về một tập tục ở một ngôi làng Bắc bộ, ở đó hằng năm làng chọn ra một người con gái mang theo thuốc mê và thuốc độc đi sang làng khác quyến rũ đàn ông rồi giết anh ta, và chỉ được trở về làng khi còn trinh tiết. Truyện được viết gọn, sắc. Mạch truyện nhanh, giàu kịch tính. Đọc Thuốc mê vào đầu thế kỷ hai mươi mốt là để hiểu hơn một chút về một mảng làng quê đầu thế kỷ hai mươi và để tìm những kết nối mong manh giữa hiện tại và quá khứ.

Không ai qua sông, tập truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư

Văn chương thế giới không thiếu những nhà văn chuyên chú khai thác một vùng đất lặp đi lặp lại trong các tác phẩm của mình. Nguyễn Ngọc Tư cũng thế. Hầu hết tác phẩm của chị xoay quanh cảnh và người miền Tây Nam Bộ. Tuy nhiên, chị luôn sở hữu năng lực làm người đọc ngạc nhiên, cả khi người đọc ngỡ đâu không còn gì mới lạ trong truyện ngắn của chị. Đọc Không ai qua sông, rất dễ nhói tim vì những chuyện ất ơ của đời sống miệt quê. Đó có thể là chuyện một cậu trai đâm chết thằng bạn thân chẳng vì lý do gì (“Giữa mùa Chán Chết”), chuyện một cậu trai khác mắc kẹt trong một vùng đất “yên ả” đến tẻ nhạt (“Tiều tuỵ vòng quanh”), hay chuyện một cậu trai khác nữa mắc kẹt lưng chừng trời trong một vụ tình ái vụng trộm. Không ai qua sông còn là tập truyện của những hụt hẫng mà ở đó vợ chồng hay tình nhân chia tay nhau vì những nguyên nhân người ngoài tưởng nhỏ như con kiến mà người trong cuộc thấy to bằng con voi (“Vực không đáy”, “Dây diều”). Truyện dài nhất tập mang cái tên đầy tham vọng là “Đất”. Ở câu chuyện trải qua bốn thế hệ, dữ dội không kém Cánh đồng bất tận này, không thể không phục tác giả tài gói ghém chi tiết, dàn dựng nút thắt nút mở.  Tuy nhiên, vì dụng công nhiều quá, nên “Đất” có thể không gây “ép phê” bằng Cánh đồng bất tận

Hồ, Kawabata Yasunari, Uyên Thiểm dịch
     
Ám ảnh về cái đẹp là chủ đề thường gặp trong tác phẩm của Kawabata, nhà văn Nhật, chủ nhân giải Nobel Văn chương 1968. Hồ lần đầu tiên được dịch ra ra tiếng Việt, và là một trong hiếm hoi tiểu thuyết của ông được dịch trực tiếp từ nguyên ngữ. Hồ là câu chuyện về Gimpei, người đàn ông kỳ quái bị ảm ánh bởi vẻ đẹp của các cô gái, đồng thời lại mang trong người mặc cảm về cái xấu. Ám ảnh làm cho anh ta trở nên kỳ quái, thậm chí bệnh hoạn, nhưng tận cùng trong anh ta là một tâm hồn cô đơn và dễ bị tổn thương. Có lẽ phần nào Gimpei cũng là hình ảnh nước Nhật thời hậu chiến. Văn của Kawabata bảng lảng như mặt hồ đầy sương khói, mang vẻ khó nắm bắt đặc trưng. Không thể không nói thêm rằng, ấn bản Việt ngữ này có bìa thật hợp.

Quấn-Quít, Émile Ajar (Romain Gary), Hồ Thanh Vân dịch

Một đô thị mười triệu người trong đó bao nhiêu người cô độc? Bao nhiêu người bất lực khi thiết lập mối giao tiếp với người khác? Bao nhiêu người không thể chia sẻ buồn vui với con người, và thay vào đó, chia sẻ với một con trăn? Và bao nhiêu người sẽ hóa thành trăn theo một cách nào đó?  Quấn-Quít , cũng là tên con trăn mà nhân vật chính nuôi làm bạn tâm giao, là cuốn tiểu thuyết viết về sự cô độc kỳ lạ bậc nhất, với ngôn ngữ kỳ lạ bậc nhất (có thể cảm nhận điều này qua bản dịch tiếng Việt của Hồ Thanh Vân). Émile Ajar là bút danh khác của Romain Gary, tác giả của những tác phẩm xuất sắc khác đã được dịch ra tiếng Việt như Lời hứa lúc bình minh, Cuộc sống ở trước mặt, Bao người chờ đợi

Friday, 25 March 2016

Mấy cuốn mới đọc gần đây

Gần đây tôi đọc mấy cuốn tương đối mỏng, nếu không buồn ngủ thì đọc một hai, tối là xong. Sáng dậy gõ vài dòng vào Goodreads làm bằng chứng. Chép  lại ở đây:

Trần Khánh Dư của Lưu Sơn Minh, Đông A xuất bản

đọc cũng được

nhưng "cũng được" chắc không phải từ tác giả muốn nghe :)

nói chung tác giả nói 8 năm mới viết xong, tôi tin, vì rõ ràng tác giả viết công phu và chăm chút

tuy nhiên, công phu và chăm chút không có nghĩa là tác phẩm đạt được những điều tác giả muốn

tác giả muốn khắc họa một Trần Khánh Dư kiêu bạc và cô độc, nhưng cứ lặp đi lặp lại rằng "ông rất cô độc" không hẳn là cách hay

trận hải chiến Vân Đồn gần cuối sách đáng lý phải là một đỉnh điểm, bùng nổ, cái chết của các vị tướng thân cận lẽ ra phải gây nhiều đau đớn hơn, phải làm cho người đọc bùi ngùi, nuối tiếc hơn. Ở điểm này, Lưu Sơn Minh chưa bằng được thầy mình - Hà Ân.

dù sao, tôi vẫn trân trọng nỗ lực của nhà văn và luôn muốn đọc/xem những tác phẩm khai thác đề tài sử Việt


Hồi phục của Phan Hồn Nhiên, Trẻ xuất bản

Rất tệ, một thất vọng lớn so với Ngựa thép của chính Phan Hồn Nhiên ra cách đây hai năm. Ngựa thép đã có dấu hiệu văn hơi Tây, nhưng hãy còn ở trong chừng mực mang đến cho câu văn chút lạ lẫm nhất định, và nói chung thì giọng văn ấy hài hòa với câu chuyện. Còn trong tập này, PHN viết văn như người nước ngoài viết tiếng Việt, hay như dịch từ tiếng nước ngoài ra, mà là một bản dịch rất vụng nữa. Chẳng những PHN dùng cấu trúc dịch từ tiếng nước ngoài, mà cả từ vựng. Người Việt nào sẽ nói "trả từng phần" thay cho "trả góp", hay đặt câu kiểu "cảm xúc được thiết lập bởi...." Hằng hà sa số câu cú và từ dùng ngô nghê như thế trong Hồi phục. Vì văn quá tệ, mọi thứ khác trở nên không còn quan trọng.

Cũng nói thêm, cuốn này đầy lỗi biên tập. Chẳng hạn, trong cùng một trang, lúc thì dùng  "va-li", lúc thì dùng "valise".


Sương mù tháng Giêng của Uông Triều, Trẻ xuất bản

Bối cảnh của Sương mù tháng Giêng chủ yếu trải từ kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ hai sang kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ ba của nhà Trần. Thời kỳ này, nếu chỉ đọc chính sử, ta cũng biết có rất nhiều sự kiện diễn ra; quan trọng hơn, có nhiều "chuyện" để nhà văn tưởng tượng, thêm thắt vào, để thành tiểu thuyết, ví dụ chuyện vua Trần gả An Tư cho Thoát Hoan, chuyện Trần Ích Tắc phản bội, chuyện Trần Bình Trọng hy sinh, chuyện Trần Quốc Toản dấy quân, mối bất hòa giữa Trần Quang Khải và Trần Hưng Đạo, chuyện Trần Khánh Dư tòm tem công chúa Thiên Thụy .v.v..

Uông Triều chọn cách gom gần hết những chuyện trên đây vào Sương mù tháng Giêng, thay vì chỉ khai thác sâu một trong những sử liệu trên. Làm vậy cũng được, nhưng nếu vậy, người đọc trông đợi một cuốn tiểu thuyết bề thế, đầy đặn hơn. Đằng này, rất nhiều chương trong Sương mù tháng Giêng chẳng khác gì những bài đọc lịch sử trong sách giáo khoa lớp 5. Sự sáng tạo của nhà văn là hạn chế.

Vậy nhà văn có sáng tạo không? Có, nhưng rất tiếc, những chỗ ấy thường mang màu sắc cải lương, gượng gạo, sến, non yếu. Những đoạn độc thoại nội tâm của Trần Khánh Dư, Trần Nhân Tông, Trần Ích Tắc thậm chí của Hốt Tất Liệt và Thoát Hoan đều được viết na ná nhau. Quay qua quay lại đều có những câu cảm thán như "ta là ai" "nó là ai mới được chứ". Đoạn đối thoại giữa An Tư và Thoát Hoan thì quá sức cải lương, tầm thường đến mức buồn cười. Ngoài ra, việc nhà văn trộn lẫn giữa phong cách người kể chuyện toàn năng và độc thoại nội tâm là không đạt, gây đứt gãy trong mạch kể, khiến các độc thoại nội tâm đều có vẻ giả tạo.

Tôi rất tiếc không tìm ra được điểm sáng trong cuốn tiểu thuyết này, mặc dù rất quý tác giả!

PS. Giá bìa cao phi lý, 112.000 đồng.



Không ai qua sông của Nguyễn Ngọc Tư, Trẻ xuất bản

 3.5 sao, làm tròn thành 4.

Nếu như cầu thủ bóng đá có người chỉ thiên khiếu mà thành tài, có người vừa có khiếu vừa chuyên cần học hỏi luyện tập, thì Nguyễn Ngọc Tư thuộc loại thứ hai. Tư vừa có khiếu, vừa rất chăm học :) Càng về sau, kỹ thuật viết truyện của chị càng cao cường. Kỹ thuật cao không luôn đồng nghĩa có truyện hay, tuy nhiên, cái nào ra cái đó, thấy kỹ thuật cao thì khen kỹ thuật.

Tiêu biểu cho lối viết thiên về kỹ thuật là truyện Đất, truyện dài nhất ở cuối tập. Ở câu chuyện trải qua 4 thế hệ, dữ dội không kém Cánh đồng bất tận này, không thể không phục tác giả tài gói ghém chi tiết, dàn dựng nút thắt nút mở .v.v.. Tuy nhiên, vì khéo quá, dụng công nhiều quá, nên không ép phê bằng Cánh đồng bất tận.

Những truyện đáng chú ý khác trong tập là Tiều tụy vòng quanh, Vực không đáy và một hai truyện nữa nhất thời không nhớ tên (mới nhớ ra một truyện là Giữa mùa chán chết).

Tập truyện này với người khác có thể kể là một thành tựu, nhưng với Tư thì chưa vượt lên chính mình. Tuy nhiên, sự chuyên nghiệp của chị là điều đáng trân trọng.


PS. Tôi sẽ thích hơn nếu tên truyện được rút lại, ví dụ Vực thay vì Vực không đáy, Tiều tụy thay vì Tiều tụy vòng quanh, Chán thay vì Giữa mùa chán chết; còn Không ai qua sông thì có thể rút thành Không! :)


 

Wednesday, 24 February 2016

Ăn Tết xong rồi

Hôm nay có bạn nhắn tin hỏi về cuốn Cánh cửa, mới sực nhớ ra mình ăn Tết xong rồi, có phần hơi kỹ quá. Mọi năm Tết là thời gian tôi đọc nhiều hơn, vì rảnh. Tết năm nay mắt kém đi nên đọc ít, bù lại xem phim nhiều đi chơi nhiều. Dẫu vậy tự thấy mình cũng nên nhắc qua mấy cuốn đọc gần đây, trước và sau Tết.


  • 451 độ F của Ray Bradbury: Tiểu thuyết kinh điển của dòng dystopian hay được dịch là phản địa đàng, thường được xếp đâu đó cùng 1984 của G.Orwell (một bản underground tiếng Việt cuốn này sắp xuất hiện) và A Brave New World của Huxley. Hai cuốn sau tôi đã có bản tiếng Anh riêng 451 độ F thì chưa có nên chỉ đọc tiếng Việt. Nếu vượt qua được ngôn ngữ của bản dịch vốn, thành thật mà nói, khô và tẻ, thì có cơ hội gặt hái được rất nhiều. Tính chất phi thời gian của cuốn sách nằm ở chỗ khi chúng ta ngỡ như càng ngày càng sống trong một thời đại văn minh hơn thì vấn đề của cuốn sách càng sát sườn với chúng ta.

  • Frankenstein của Mary Shelley: Một cuốn tiểu thuyết khác cũng được coi là cổ điển của văn chương Anh mà giờ tôi mới đọc. Rất thú. Cuốn sách có kiểu dẫn dắt lan man của văn chương ngày xưa hóa ra lại đặt ra những vấn đề rất lớn  về đạo đức và triết học. Nhưng phát hiện lớn nhất của tôi đó là Frankenstein hóa ra không phải tên một con quỷ mà là tên người sáng tạo ra nó. Ôi, Holywood đã làm chi đời tôi?
  •  Zoo: Tập truyện ngắn rất chi kinh dị của tác giả Nhật Bản Otsuichi. Nói chung tôi đã đọc được rất nhiều thứ đen tối quái dị của các nhà văn Nhật, nhưng cũng hiếm có cuốn nào đen tối đến mức như tập này. Hai truyện hay nhất tập là SO far  (SO là viết tắt của Significant Others) và Thơ của ánh dương. 
  • Nỗi đau của chàng Werther: Si tình đến thế thì thôi/ Đời phồn hoa cũng là đời bỏ đi :)
  Nói thế thôi, chứ gần đây tôi thấy thú nhất là Mỹ nhân ngư có em Lâm Doãn đẹp thần tiên!