Monday, 8 December 2014

Linh tinh mùa Giáng Sinh

Sáng nay, thứ hai đầu tuần, tôi đi viếng một người đồng nghiệp. Tin anh mất là là một cú sốc cho tất cả những người quen biết. Anh mới ngoài năm mươi, giữ một trong những vị trí cao nhất trong công ty. Anh đang phụ trách một dự án lớn. Hồi tháng 9, khoảng một tuần không gặp anh, email anh cũng không trả lời, cứ nghĩ anh đang bận đi công tác như mọi khi. Sau đó mới biết anh bị chẩn đoán ung thư gan. Anh vừa tiễn cậu con trai lên đường du học mới vài tuần trước đó. Còn nhớ, giữa lúc dự án đang bận rộn, anh nghỉ phép mấy ngày. Anh không nói gì nhưng đồng nghiệp bảo gia đình anh tranh thủ đi chơi cùng nhau trước lúc cậu con trai lên đường. Sáng nay, nhìn di ảnh anh, không khác mấy hình anh vẫn dùng trong các ấn phẩm nội bộ công ty. Cậu con trai học lớp 11, mặt mũi khôi ngô, giống anh như tạc, cả cách nói chuyện.

Đi viếng về, tôi và một anh đồng nghiệp ghé quán ăn trưa. Anh em bảo nhau, sống đấy chết đấy, phù du lắm, thế nên phải bớt sân si. Tôi phục những người có khả năng chửi người khác cả năm trời. Tôi cũng phục những người nuôi mối thù năm này sang năm nọ. Chả phải nói gở, ngày nào đọc tin trên báo, cũng có người đang yên đang lành bị BMW đâm vào người hoặc bị thép trên trời rơi xuống. Có ai đang vui khỏe hình dung ra cái chết của mình đâu. Tranh giành nhau, hận thù nhau, lỡ đạp phải cái cống mà không có nắp lúc mưa to, hay rút tiền trúng cái ATM chập mạch, cũng chết. Xuống tuyền đài còn ai mà ganh đua, bon chen. Sao không buông đi.

Cách đây năm năm, tôi bắt đầu đọc Paul Auster. Chủ đề yêu thích của Paul Auster là tính ngẫu nhiên, sự vô thường. Tất nhiên Auster không dùng chữ vô thường. Chữ này, trong ngôn ngữ nghệ thuật Việt, dường như dính chặt với Trịnh Công Sơn mất rồi. Có một truyện của Auster, đọc lâu quên tựa, hình như Oracle Night, kể chuyện một anh nọ, đêm ra đường đi dạo thì một tảng bê tông của một công trình xây dựng rơi xuống sát chân mình. Anh thoát chết trong gang tấc. Sự kiện ấy vĩnh viễn thay đổi cuộc đời anh. Những gì diễn ra sau đó, tôi không nhớ rõ lắm, nhưng có chi tiết anh ra phi trường, mua một vé máy bay bất kỳ, đi đến một thành phố xa lạ rồi nhốt mình vào một căn phòng nào đó.

Giáng sinh năm nay tôi không còn đọc Paul Auster. Những cuốn gần đây ông làm tôi chán ngấy. Nhưng Auster là một dấu ấn với tôi, đánh dấu thời gian tôi trở lại với tiểu thuyết.

Mùa Giáng sinh năm nay, tôi soi gương thấy tóc mình có vài điểm bạc. Tôi tập thể dục đều đặn, ý thức rõ rằng nếu không tập thì cơ thể có thể phản bội mình.

Tôi phóng xe ra Nhã Nam thư quán, mua toàn bộ những tập thơ trong bộ Việt Nam Danh tác. Điêu tàn, Tiếng thu, Mê hồn ca, Lỡ bước sang ngang, Quê ngoại, Gái quê – Xuân như ý. Tôi ngồi ở Nhã Nam một mình, đọc lại những vần thơ mà phần lớn tôi từng thuộc lòng. Cảm giác đọc thơ từ những ấn phẩm xinh xắn vẫn khác. Sẽ rất vô duyên nếu đọc thơ trên Kindle. Thơ cần một đối xử khác, và với bộ sách này, thơ được đối xử đẹp.

Tôi đọc thơ, và nhớ lại những năm mười sáu, mười bảy tuổi của mình, và nghĩ về tuổi mười bảy của tác giả Điêu tàn, tuổi mười tám hai mươi của hầu hết các nhà thơ thời ấy. Không phải bài thơ nào của họ cũng vượt thời gian, nhưng không khí thơ mà họ tạo ra thời ấy thì vượt thời gian.

Mùa Giáng sinh năm nay, tôi nhìn những đứa con mình đang lớn lên. Tôi dựng cây thông Noel, cùng ba mẹ con đi mua đồ về rồi cùng nhau trang trí. Alpha hí hoáy suốt buổi chiều gói quà cho ba, mẹ, và em Pi. Gói quà cho ba, mẹ, Alpha viết dòng chữ: Ông già Noel kính tặng ba V., mẹ Q. Ông già Noel quả thật rất lễ phép.

Chiều chủ nhật, Alpha và Pi được đi xem liên hoan phim khoa học, có phim về ô tô chạy bằng chanh. Về nhà, Pi mơ màng, nếu trái đất này có thật nhiều chanh, thì tất cả ô tô có thể chạy bằng chanh và sẽ không còn ô nhiễm. Pi đã viết một bài văn ngắn về con chó Lucky đã chết của bác N., kết thúc bằng câu, em rất buồn khi nó chết, em mong nó sẽ sống lại.

Từng mùa Giáng sinh qua đi, những đứa trẻ lớn lên, chúng ta có già đi, nhưng vẫn không thôi lãng mạn và yêu thương.

Giáng sinh an lành.

Friday, 17 October 2014

Ngựa thép của Phan Hồn Nhiên



Phải đến Ngựa thép, Phan Hồn Nhiên mới gọi tác phẩm của mình là tiểu thuyết. Với những tác phẩm trước đây như Công ty hay The Joker, Phan Hồn Nhiên chỉ gọi đó là truyện dài (thật ra, tôi chưa đọc tác phẩm nào khác của Phan Hồn Nhiên). Tuy sự phân chia thể loại không nhất thiết phải quá rạch ròi, nhưng qua việc này, có thể nhận thấy Phan Hồn Nhiên đã rất cẩn trọng với việc dán nhãn tác phẩm của mình. Phan Hồn Nhiên quan niệm rằng tiểu thuyết phải đi xa hơn việc kể một câu chuyện. Chính vì lẽ đó, nếu đi tìm câu chuyện của Ngựa thép, người đọc sẽ bối rối.  Rõ ràng có nhiều hơn một câu chuyện, mà lại rất khó kết nối các câu chuyện ấy với nhau.

Tác giả đã gọi tác phẩm của mình là tiểu thuyết, và người đọc cũng có cảm giác mình được đọc một tiểu thuyết đích thực, bởi lẽ Ngựa thép nắm bắt được tính phức tạp và bất ngờ vốn tiềm tàng ở mỗi cá nhân con người, cũng như trong quan hệ giữa họ với nhau, nhưng thường lại hay bị quy giản. Ngựa thép đi vào những mối quan hệ không nhiều khi được đề cập trong văn chương Việt Nam: tình cảm cảm thông và thẳng thắng giữa cha dượng và con riêng của vợ, sự gắn bó và đố kỵ giữa hai anh em song sinh, sự thấu hiểu kỳ lạ giữa một cô gái đánh mất trí nhớ sau tai nạn và một chuyên gia ngôn ngữ. Những nhân vật ấy vừa lạ lẫm vừa quen thuộc. Lạ lẫm vì nếu so với cuộc đời mà ta biết, ta chưa từng gặp những con người tương tự như vậy; còn quen thuộc vì, trong một góc sâu kín nào đó, cách ứng xử cách suy nghĩ của những nhân vật ấy rất có thể là của chính ta. 

Trong Ngựa thép, Phan Hồn Nhiên cũng thử nghiệm trò chơi cấu trúc. Tiểu thuyết gồm ba phần chỉ kết nối với nhau bằng một số chi tiết nhỏ. Cấu trúc này gợi nhớ đến bộ ba phim Xanh, Trắng, Đỏ của đạo diễn Ba Lan Krzysztof Kieslowski, hoặc tiểu thuyết The Blindfold của Siri Husdvet. Trong phần một, giọng kể lần lượt thay đổi từ người cha dượng, sang người mẹ rồi đến cô bạn gái, qua đó Sơn - có thể gọi là nhân vật chính của phần một - hiện lên từ các góc nhìn khác nhau. Phần ba lại có tiểu thuyết lồng trong tiểu thuyết: chen giữa tiểu thuyết về cô gái mất trí nhớ và chuyên gia ngôn ngữ, là cuốn tiểu thuyết mà cô gái được yêu cầu đọc để phục hồi trí nhớ của mình. Ba phần của tiểu thuyết giống như ba bức tranh trong cùng một bộ treo cạnh nhau, cùng trình diễn sự cô độc của con người trong thế giới hiện đại.

Về mặt ngôn ngữ, Ngựa thép có phần hơi Tây. Đôi chỗ cách dùng các đại từ khiến người đọc cả cảm giác mình đang đọc một tiểu thuyết dịch.  Bỏ qua những lấn cấn về ngôn ngữ đó, cuốn sách vẫn có nhiều đoạn văn cảm động. Tổng thể, Ngựa thép là một cuốn tiểu thuyết đẹp, đáng đọc.


Tuesday, 10 June 2014

Ngắm Orhan Pamuk chạm trổ thời gian

Ngắm Orhan Pamuk chạm trổ thời gian

Nguyễn Vĩnh Nguyên

(TBKTSG) - Có vẻ như những cuốn tiểu thuyết của Orhan Pamuk (Nobel văn chương 2006) phù hợp để đọc vào những ngày mùa đông giá lạnh, lúc một mình thư thái hơn là những ngày hè nóng nực, giữa chốn xô bồ. Càng không thể đọc khi chưa hoạch định cho mình một quỹ thời gian nhất định, “dọn mình” để chìm đắm vào những trang văn tinh vi khắc kỷ.

Nhiều người không đọc được Tên tôi là Đỏ, Tuyết, Pháo đài trắng hay kể cả cuốn Hồi ức Istanbul (đều đã dịch sang tiếng Việt) viết tỉ mỉ quá mức về những thứ trong thư viện, bảo tàng gia đình, căn phòng, ngôi nhà, đường phố, cảng thị, quán xá, con người nơi nhà văn lớn lên và gắn bó tới mức chưa từng nghĩ sẽ có ngày xa rời nó.

Cũng phải cảm thông cho những độc giả không chuyên - vì chắc rằng, kể cả những con mọt sách cũng có khả năng trở thành kẻ dối lòng nếu nói chưa từng rơi vào cảm giác sốt ruột khi đọc sách của nhà văn người Thổ Nhĩ Kỳ này.

Nhưng rồi cũng có một điều chắc chắn, văn chương của Orhan Pamuk khiến người ta nghiêm túc hơn trong việc đọc. Và nhất thiết bản thân người đọc phải xác lập một hệ trục thời gian khác để bước vào những trang sách đang tĩnh tại mời gọi, khiêu khích chúng ta thâu tóm, chiếm lĩnh chúng theo một cái duyên ngầm ẩn nào đó rất khó lý giải.

Trước hết, để hiểu Pamuk-nhà văn, hãy hiểu một Pamuk-người đọc. Ở cuốn tiểu luận Những màu khác mà ông gọi là những phân mảnh, người đọc gặp Orhan Pamuk là một người đọc trung tín, độc lập phía sau một nhà phê bình sắc sảo khi ông “note” (ghi chú) việc đọc tác phẩm của những nhà văn giàu cá tính: Thomas Bernhard, Salman Rushdie, Albert Camus, Nabokov hay Dostoyevsky...

Thông qua ghi chép về việc đọc, cách đọc của Orhan Pamuk, ta hiểu thêm về quan niệm viết văn, quan niệm tiểu thuyết của ông. Trong Cái thú đọc sách, Pamuk viết về ấn tượng khi đọc Tu viện thành Parme của Stendhal: “Nói cho cùng, một tiểu thuyết tuyệt diệu trở thành một phần không tách rời của cuộc sống và thế giới quanh ta, mang ta lại gần hơn ý nghĩa cuộc đời; nó đến thế chỗ cho niềm hạnh phúc ta có thể chẳng bao giờ tìm thấy trong cuộc sống để trao ta niềm vui sướng xuất phát từ ý nghĩa của nó”.

Mối tương quan nhà văn với chính trị, trí thức với xã hội cũng được ông đề cập nhiều trong phần Chính trị, châu Âu và những vấn đề khác của việc là chính mình. Tại đây, con người văn chương thuần túy tưởng đóng cửa im ỉm trong bốn bức tường, say sưa với các món cổ ngoạn, tô vẽ cho những tiểu họa chữ nghĩa như Orhan Pamuk vẫn không tách rời thái độ chính trị, trách nhiệm trí thức trong bối cảnh hiện đại của Thổ Nhĩ Kỳ.

Về mặt cấu trúc cuốn sách Những màu khác, không phải vô tình khi Orhan Pamuk đưa bài “Ông viết cho ai?” vào sách. Trước câu “chất vấn” thường thấy của các phóng viên - ông viết cho ai?, ông bàn sâu vào đối tượng độc giả mà một nhà văn ngày nay hướng đến.

Nếu ở thế kỷ thứ 19, nghệ thuật tiểu thuyết cơ bản là nghệ thuật quốc gia; Dickens, Dostoyevsky hay Tolstoy xác định viết văn cho một tầng lớp trung lưu đang trỗi dậy, đọc và viết tiểu thuyết là tham gia cuộc thảo luận trên toàn quốc về những vấn đề hệ trọng của đất nước, thì trong hiện tại, sự kết hợp giữa chủ nghĩa hiện đại và nghệ thuật tiểu thuyết vừa mang lại cho văn chương văn học một vị trí cao quý, vừa đặt nhà văn vào một thế lưỡng nan, thử thách: trung thành với chủ nghĩa quốc gia, phục vụ độc giả địa phương hay hướng tới đối tượng đọc toàn cầu hóa; vì những vấn đề chính trị bản địa, bản sắc hay tách rời truyền thống văn hóa để hướng đến những thế giới giao cảm xa lạ khác?

Cuối cùng, từ một cảm quan “đầy bất ổn về trật tự văn hóa mới”, câu trả lời của Orhan Pamuk là: “Chẳng lấy đâu ra một người đọc không bị ràng buộc bởi những cấm đoán xã hội và huyền thoại quốc gia, cũng như không thể tồn tại cái gọi là tiểu thuyết gia lý tưởng. Nhưng - cho dù là quốc gia hay quốc tế - chính là vì các độc giả lý tưởng mà các tiểu thuyết gia viết văn, trước hết bằng cách tưởng tượng người đọc đó hiện hữu, và rồi bằng cách viết sách với người đọc đó trong đầu” (trang 285).

Và, như những đoạn nhạc dạo thong thả, một lần nữa, Orhan Pamuk sẽ lại thử thách ta trong những trang viết tỉ mỉ về bìa sách, chuyện loại bỏ những cuốn sách khỏi thư viện, chuyện con hải âu đậu ngoài cửa sổ, con hải âu già đi và chết như thế nào...

Orhan Pamuk trình hiện trước mắt ta những tảng thời gian được chạm trổ thành khối, mỗi đường nét của nó có sức phản chiếu nội tâm trung thực nhất, vi tế nhất, ngay cả khi ông chủ ý gọi đó chỉ là những phân mảnh rời rạc.

Đọc ông trong một thư viện vào một sáng mùa đông tĩnh lặng, có thể bạn sẽ nghe được tiếng rì rầm của những cuốn sách trên kệ trò chuyện với nhau. Đó là niềm vui sướng và cũng là cái giá khi trở thành “một độc giả lý tưởng”.

(Đọc Những màu khác, Orhan Pamuk do Lâm Vũ Thao dịch, Nhã Nam & NXB Văn học, 2013, 482 trang, giá bìa 120.000 đồng)

http://www.thesaigontimes.vn/113542/Ngam-Orhan-Pamuk-cham-tro-thoi-gian.html
 

Monday, 19 May 2014

Taxi

Tôi chả nhớ đích xác lần đầu tiên mình đi taxi là khi nào, nhưng tôi chắc chắn rằng đến bây giờ mình phải có trên hai mươi năm kinh nghiệm đi taxi chứ không ít. Từ khi chưa đi taxi lần nào tôi đã biết taxi là một phương tiện tốn tiền, nhờ vào sách Streamline English. Cái thời tôi bập bẹ tiếng Anh, cả nước học cùng một giáo trình Anh ngữ. À, có thể hai, ngoài Streamline English còn có New Concepts, cả hai đều có những băng cát-sét sang đi sang lại chục lần, nghe tiếng người nói thì ít, tiếng rọt rẹt thì nhiều, đâm ra có một thế hệ nói tiếng Anh mở mồm ra toàn ọt ẹt. Sách Streamline English có một mẩu hội thoại đại khái một cô bảo anh đi taxi đi thì anh kia trả lời tao ếch phải là mi lơ ne. Từ đó tôi hiểu rằng phải mi lơ ne mới đi taxi được, nên dân Việt bây giờ hầu như ai cũng [từng] đi taxi.

Tôi ghét mọi sự khát quát hóa vội vàng, nhưng tôi tin quan sát taxi cho ta biết khá nhiều điều về một thành phố. Ở Brisbane, Úc, các bác tài taxi thường rất lịch thiệp, khách ngồi lên taxi rồi, đợi khách thắt dây an toàn xong sẽ nhã nhặn hỏi, “Where are you travelling today?”. Thời tôi mới sang Úc, do ảnh hưởng của sách Streamline English, nên cứ tưởng họ hỏi mình tính du lịch ở đâu. Mất một thời gian tôi mới nhận ra “travel” không nhất thiết phải là “du lịch” mà đơn giản chỉ là đi. Ở Singapore, tài xế taxi thường là các bác người Hoa già, nói tiếng Anh đậm giọng Hoa, phóng xe rất nhanh, thái độ cũng rất chuyên nghiệp, nhận thanh toán bằng thẻ tín dụng. Ở New York, giữa hành khách và tài xế, có một tấm kính chắn lên ắt vì tỷ lệ tội phạm cao ở đây, khách và tài xế giao tiếp với nhau thông qua mấy cái lỗ thông hơi . Tài xế taxi ở Mỹ gọi khách bằng sir, lịch sự nhưng không vồn vã, và dĩ nhiên khi xuống xe chớ quên tiền tip. Tài xế taxi ở Thượng Hải hay Quảng Châu thì ưa đổi làn liên tục, hình như triết lý của họ là làm đầy mọi khoảng trống, nên thấy bất cứ khoảng trống ở bất cứ làn nào là lao vào ngay. Triết lý này phù hợp với những người thiếu kiên nhẫn nhưng không thích hợp lắm với hội tiền đình.

Tài xế taxi ở Sài Gòn những năm trước thì có tật ưa để tổng đài kêu rột rẹt, nhưng giờ thì đỡ nhiều rồi. Lên taxi ở Sài Gòn, thường khách là người nói nơi đến, vì các bác taxi Sài Gòn nhìn chung khá kiệm lời. So với taxi Hà Nội chẳng hạn, thì các bác tài Sài Gòn đã ít bấm còi hơn rất nhiều, và nói chung là không có kiểu đá đèn đòi vượt liên tục. Tài xế taxi ở Đà Nẵng và Hội An lái xe lành, dễ thương, tuy nhiên vẫn có tật ưa bấm còi.

Mặc dù vậy, vô địch thủ về bấm còi vẫn là taxi Hà Nội. Các bác tài ở đây cũng rất ít kiên nhẫn, ưa đổi làn, và ưa chạy sát đít xe trước và nhá đèn. Họ cũng tích cực tham gia câu chuyện của khách. Nhiều lúc khách đang say sưa nói chuyện với nhau, chợt giật mình cái độp vì từ ghế trước bác tài hào hứng lên tiếng góp chuyện. Khi không góp chuyện, thì họ có thể gọi điện thoại, có khi còn nhắn tin, hoặc cao hứng cất tiếng hát. Có lần, trên đường từ sân bay về, bác tài của tôi liên tục gọi điện cho ai đó để hẹn điểm đón khách. Tôi bảo anh đang chở khách đây, khi nào khách xuống rồi thì anh hãy lo tìm khách khác chứ. Bác tài nghe chừng rất ngạc nhiên, bảo phải lo trước để khách này xuống thì có khách khác ngay. Anh chăm tăng gia sản xuất thế, vợ con ắt rất vui, riêng khách thì không vui lắm vì sợ anh ủn đít xe trước hay lủi vào con lươn.

Vậy hơn hai mươi năm kinh nghiệm đi taxi có ích gì? Thật ra cũng chẳng ích gì, ngoài việc giúp gõ được vài dòng gọi là mua vui cũng được một vài phút nghỉ trưa.

Friday, 2 May 2014

Giai cấp công nhân tiên tiến

Hôm nay, thứ sáu ngày 2/5, ngày Quốc tế các Công chức, Viên chức, giai cấp công nhân tiên tiến do không phải công chức viên chức nên vẫn đi làm. Đường vắng như ngày giáp Tết, nên chẳng mấy chốc giai cấp công nhân đến văn phòng, sớm hơm ngày thường những mười lăm phút. Văn phòng cũng vắng, giai cấp công nhân bèn review nhà sách Fahasa Nguyễn Huệ mới khai trương.

Chuyện là người công nhân nghe báo đài nói Fahasa khai trương nhà sách mới ở 40 Nguyễn Huệ nên xăng xái đi xem. Đến nơi, hóa ra nó chính là nhà sách Fahasa Nguyễn Huệ cũ, chỉ mông má lại chút ít, thế mà cứ ầm ĩ khai trương với chả khánh thành. Nhà sách bình mới rượu cũ, bình cũ rượu mới này về cơ bản không khác gì nhà sách trước đây, vị trí các phân khu sách vẫn thế, phong thủy vẫn ở chỗ phong thủy, đồ chơi vẫn ở chỗ đồ chơi, chỉ trông sáng sủa, sạch sẽ hơn vì mới được tân trang nội thất. Chắc ai đó vẫn tiếc mấy tấm thảm đỏ đỏ cũ cũ bẩn bẩn, nên đôi chỗ vẫn để lại như xưa, nhìn vào rất miên man ký ức. Một số kệ được dẹp bớt, chừa chỗ cho lối đi, nên trông thoáng hơn. Sách có cố sắp xếp để dễ nhìn hơn, các đầu sách cùng tác giả được xếp gần nhau, nhưng nhìn chung vẫn không hiểu được xếp theo trật tự nào, muốn tìm một đầu sách nhất định thì không có cách nào ngoài việc rảo hết các dãy kệ.

Sách ngoại văn dồi dào hơn trước. Khu tiểu thuyết, trước đây thường chỉ có sách trinh thám, hình sự và tiểu thuyết classic, thì nay có khá nhiều tiểu thuyết văn học đương đại. Một số tác giả được ưu ái khác thường: John Banville, Cormac McCarthy, Breathe Easton Ellis, Don Delillo mỗi người có năm bảy đầu sách. Có cả Essays in Love của Alain de Botton, The Savage Detectives của Roberto Bolano, Three Strong Women tức Ba phụ nữ can đảm của Van Ho. Đặc biệt, có tới bốn cuốn của Cees Nooteboom, nhà văn Hà Lan, mấy lần ngấp nghé Nobel. Giá các cuốn này đều khá mềm so với giá bán ở nước ngoài, thậm chí mềm so với sách Việt của NXB Trẻ hay Phương Nam. Cuốn The Savage Detectives đâu có hơn hai trăm ngàn, còn Blood Meridian của Cormac McCarthy có trăm chín chục.

Giai cấp công nhân đi về mà không mua cuốn nào, trừ bốn tập Doraemon cho giai cấp công nhân con. Trước đây, Fahasa mà lòi ra một đầu sách như thế thì biết tay chàng. Nhưng bây giờ, hơi nhiều lựa chọn tí, chàng đâm chảnh, tự nhủ, nhiều cuốn hay ho thế, chắc chả ai mua, lúc nào mình mua chả được. Về nhà, giai cấp công nhân lôi từ kho sách 3.000 cuốn của mình ra, bắt đầu đọc The Spy Came In From the Cold. Phê phê là.

Thursday, 1 May 2014

Tư cách của độc giả

Sau hai năm lãng du với tiểu thuyết (Sông) và thơ (Chấm), với Đảo, Nguyễn Ngọc Tư trở lại với thể loại sở trường của mình, truyện ngắn, và ngay lập tức chúng ta có một dấu ấn. Mặc dù những truyện ngắn trong tập này không hoàn toàn mới được viết, nhưng khi đọc chúng trong một tổng thể, dấu ấn đó dễ nhận ra hơn. Nếu với Ngọn đèn không tắt, Nguyễn Ngọc Tư thông báo sự xuất hiện của một nhà văn, với Cánh đồng bất tận, Nguyễn Ngọc Tư khẳng định tư cách nhà văn của mình với đông đảo độc giả, thì với Đảo, Nguyễn Ngọc Tư xác định một tư cách mới: tư cách của độc giả.

Đảo, chúng ta gặp lại những câu lúc nào cũng gọn ghẽ, những từ lạ lẫm được ném ra bất ngờ dễ làm ta u ơ, và gặp lại một thứ văn xuôi đầy nhạc tính (dẫu ta biết tác giả chỉ ưa nhạc tài tử chứ không phải jazz hay alternative!)  Ở Đảo, chúng ta gặp lại những cảnh quê buồn tẻ, những mảnh đời tuyệt vọng của những con người bình dân, chúng được nắm bắt thần tình, và được kể một cách cuốn hút, thường từ những dòng đầu tiên. Đó chính là một Nguyễn Ngọc Tư mà chúng ta quen thuộc.

Nhưng ở Đảo còn có một Nguyễn Ngọc Tư khác, một Nguyễn Ngọc Tư nhà văn-độc giả, một Nguyễn Ngọc Tư vận dụng vốn đọc thâm hậu không kém ngòi bút của mình vào tác phẩm.  Trong tập này, lần đầu tiên chúng ta thấy có những truyện mà ở đó trên nền những chất liệu quen thuộc Nguyễn Ngọc Tư tư duy về ngôn ngữ, về sự đọc hoặc sự viết, hoặc xây dựng truyện với những cú nháy mắt tới sự đọc và sự viết. Tình cờ, hoặc không tình cờ, đó cũng là những truyện xuất sắc nhất tập.

Trong Biến mất ở Thư viên, khi người yêu biến mất vào trong những trang sách, thì cô gái trở thành một người đọc, cô chăm chú đọc đến độ người yêu kế tiếp của cô cũng biến mất vào những trang sách, ắt để mong được nhìn thấy.  Trong Vị của lời câm, bi kịch của người con gái được khắc hoạ từ một khía cạnh độc đáo của ngôn ngữ: lời. Hay chính xác hơn, lời không được nói ra, lời “ngậm lâu nên chúng bợt bạt, tả tơi”, lời bị “nuốt trộng”, “mắc nghẹt muốn nín thở”. Còn trong Đánh mất cô dâu, thì nhân vật trong thao tác viết của tác giả lẫn lộn vào một câu chuyện về một cô dâu nào đó rất có vẻ như có thật đâu đó ngoài đời.

Truyện đặc sắc hơn cả chính là truyện đặt ở cuối tập, Tro tàn rực rỡ. Đó là một truyện ngắn gần như hoàn hảo, mà chỉ để phân tích một chi tiết chẳng hạn như “cái nhìn” trong truyện này, ta có thể cần tới vài ba trang giấy.  Với nhân vật người vợ - người kể chuyện trong truyện này, Nguyễn Ngọc Tư đã xây dựng nên một nàng Scheherazade của riêng mình.  Nàng Scheherazade trong Nghìn lẻ một đêm kể chuyện để giữ tính mạng, còn nàng Scheherazade của Nguyễn Ngọc Tư kể về những đám cháy nhà của một đôi vợ chồng hàng xóm để chồng mình về nhà, để chồng mình nghe, hòng tìm lại cái nhìn ngây say của đêm định mệnh xưa. Khi không còn đám cháy nào nữa để kể, thì rất có thể chồng không về nữa.

Nếu có chỗ nào không hài lòng với Đảo, thì đó là đôi lúc tác giả tỏ ra hơi cầu kỳ với từ ngữ. Cầu vồng vẫn có thể “chói chang” chứ không nhất thiết phải lộn ngược thành “chang chói” (truyện Lưu lạc), hay  một chàng thanh niên hai mươi bốn tuổi mà “xấp xãi tắm táp” (truyện Biến mất ở Thư Viên) nghe có vẻ hơi kém thanh niên đi một chút! Mặc dù vậy, với Đảo, Nguyễn Ngọc Tư đã làm khó những ai nhăm nhe ý định làm tuyển tập truyện ngắn hay trong năm hay trong mười năm qua.v.v. bởi Đảo cung cấp nhiều hơn một ứng cử viên.


Quân Khuê

http://tusach.tuoitre.vn/ArticleView.aspx?ArticleID=605260


Wednesday, 30 April 2014

Mặc khách Sài Gòn



Với đa số người trẻ tuổi bây giờ, văn học miền Nam trước 1975 là một khoảng trắng. Không dễ tìm thấy những bản sách cũ, còn sách tái bản cũng rất hiếm hoi.  Trong bối cảnh đó, sự ra đời của một cuốn sách như Mặc khách Sài Gòn là rất đáng chú ý.

Mặc khách Sài Gòn là tập di cảo của nghệ sĩ sáo trúc và ngâm thơ nổi tiếng Tô Kiều Ngân. Không phải là tập sách phê bình văn học hay văn học sử, Mặc khách Sài Gòn chỉ gom góp những ký ức tản mạn của các văn nghệ sĩ miền Nam mà Tô Kiều Ngân có dịp quen biết.  Mặc dù chỉ phác thảo đôi nét về mười lăm người mà tác giả quen, cuốn sách vẫn kịp đủ để giúp người đọc hình dung ra một thời kỳ văn nghệ sôi nổi trong một hoàn cảnh lịch sử đặc biệt. Cuốn sách có nhiều chi tiết mang tính “giai thoại”  thú vị như chuyện nhà thơ Đinh Hùng tổ chức thi… bò ra đường hay chuyện Vũ Hoàng Chương nặng chưa bốn mươi ký, ngồi trên xe máy ngoài đường thì Tô Kiều Ngân phải ôm lại cho khỏi bay nhưng bình thơ trên đài phát thanh thì sang sảng, thao thao bất tuyệt.

Phần đặc sắc hơn của tập sách này chính là phần trích tuyển tác phẩm của các văn nghệ sĩ được giới thiệu. Đọc những tiểu luận như bài của Tạ Tỵ về dạy hội hoạ trong nhà trường hay bài của Nguyên Sa về các vấn đề văn nghệ, người đọc có thể ngỡ ngàng nhận ra những ý kiến ấy dường như vẫn còn mang tính thời sự. Còn đọc những tuỳ bút, truyện ngắn của Mai Thảo chẳng hạn, người đọc hẳn sẽ ngỡ ngàng bội phần vì một thứ tiếng Việt cực đẹp, cực độc đáo. Văn đẹp thì thời nào cũng đáng đọc.

Quân Khuê

http://tuoitre.vn/Van-hoa-Giai-tri/597842/mac-khach-sai-gon.html