Wednesday, 22 April 2015

Tolstoy tả cây sồi

Adam Thirlwell, trong bài điểm Chiến tranh và hoà bình, đã nhận xét, đại ý rằng, Chiến tranh và hoà bình là một kiệt tác không phải vì độ dài của nó, không phải vì những chủ đề to lớn về Thượng đế, quốc gia, dân tộc hay cái chết, mà là kiệt tác vì những điểm nho nhỏ, vì những từ ngữ lạ lùng, hay những tiểu tiết. Tôi gặp nhiều điểm nho nhỏ vi tế như thế trong khi đọc Chiến tranh và hoà bình.

Một trong những đoạn mà tôi nhớ nhất là đoạn Tolstoy tả cây sồi qua cặp mắt của công tước Andrei. Đây là giai đoạn sau cái chết của vợ trong lúc sinh con, Andrei khép mình lại trong cuộc sống ở điền trang, từ chối mọi hội hè, giao tiếp.  

Khi ấy, trời đang mùa xuân, cảnh vật đều đã xanh tươi, ngoại trừ một cây sồi.

"Bên vệ đường sừng sững một cây sồi. Có lẽ nó già gấp mười lần những cây bạch dương mọc thành khóm rừng này, nó to gấp mười và cao gấp đôi mấy cây bạch dương ấy. Đó là một cây sồi rất lớn hai người ôm không xuể, có những cành có lẽ đã gãy từ lâu, vỏ cây nứt nẻ đầy những vết sứt sẹo. Với những cánh tay to sù sì không cân đối, với những ngón tay quều quào xoè rộng, nó như một con quái vật già nua cau có và khinh khỉnh đứng ở giữa đám bạch dương tươi cười. Chỉ có cây sồi là không chịu khuất phục cái phép nhiệm mầu của mùa xuân, không chịu đón lấy mùa xuân và ánh nắng."

Do công việc ở điền trang, chàng phải đi đến gặp bá tước Rostov. Ở nhà bá tước, Andrei gặp một Natasha tươi vui, trẻ trung, đầy sức sống. Nhìn Natasha vui đùa, Andrei cứ băn khoăn tại sao cô ấy lại vui đến thế, sung sướng đến thế. 

Từ nhà bá tước về, Andrei lại đi qua cánh rừng lúc trước, bất giác chàng gặp lại cây sồi dạo nọ.

"Chàng nhìn sang bên trái đường và bất giác đưa mắt ngắm nghía một cây sồi lớn, không nhận ra rằng đây chính là cây sồi mà chàng đang tìm kiếm. Cây sồi già bây giờ đã đổi mới hẳn, toả rộng thành một vòm lá xum xuê tốt thẫm màu, đang như say sưa ngây ngất, khẽ đung đưa trong ánh nắng chiều. Không còn thấy những ngón tay co quắp, những vết sứt sẹo, vẻ ngờ vực và buồn rầu trước kia cũng không còn dấu vết. Xuyên qua lớp vỏ cứng già hàng thế kỷ, những khóm lá non xanh tươi đã đâm thẳng ra ngoài. Thật khó lòng tin được rằng chính cây sồi cằn cỗi kia đã sinh ra những chòm lá xanh mơn mởn ấy."

Dĩ nhiên, sự thay đổi của cây sồi chính là sự thay đổi trong lòng Andrei. Một pha lấy cảnh tả người kinh điển!

(Note này đăng trên FB, các bạn bảo đoạn cây sồi này học mãi trong giáo trình văn đại học với cả sách giáo khoa văn 11-12 gì đó rồi. May mà tôi không phải học ở trường, nên vẫn còn nguyên vẹn niềm thích thú tự mình phát hiện ra.)

Sunday, 29 March 2015

Henry Miller nơi quán cóc

Kể từ ngày phát hiện ra quán cóc gần công ty, nằm trong con hẻm cụt, và dưới một gốc cây, trông giống như cây si nhưng còn nhỏ, khép nép nằm sát mép tường, hầu như trưa nào tôi cũng ăn thật nhanh, rồi lững thững cầm cuốn sổ tay sang ngồi ở đấy. Khó có thể nói rằng quán có gì đặc biệt. Trưa nào, ngoài tôi chỉ có mấy cậu hẳn cũng làm công ty nào gần đấy, kéo đến làm ly cà phê, rít điếu thuốc, đánh ván cờ, hoặc hí hoáy trên smartphone. Hết giờ nghỉ trưa mọi người kéo nhau đi, nhanh như lúc kéo đến. Cà phê ở quán không tệ, nhưng còn lâu lắm mới bén gót thứ cà phê Arabica bạn Quyên thửa riêng cho tôi bên cafesieusach. (Ờ, cà phê ngon nên nhắc đến, chứ bản thân những nhãn hiệu hay quảng cáo có chữ siêu sạch này ngầm ẩn một nỗi buồn, buồn hơn rất nhiều so với nỗi buồn vu vơ khi ngắm mưa rơi, đợi từng giọt nâu rơi và lòng ai chơi vơi. Gần đây tôi phỏng vấn một số sinh viên luật năm cuối để tuyển tập sự cho bộ phận Pháp chế của công ty (tôi ghét từ pháp chế này ghê gớm, nhưng đây là ví dụ tiêu biểu về việc chung sống hòa bình với những thứ mình ghét, vì cứ ghét mà đạp đổ rất dễ xảy ra chiến tranh), các em đều sắp tốt nghiệp từ lớp Chất lượng cao. Một mặt, tôi hiểu nhu cầu trường Luật muốn tạo ra một nhóm sinh viên đặc tuyển, có khả năng đáp ứng tốt hơn nhu cầu thị trường lao động; một mặt, tôi nghĩ đó là chuyện bất thường.  Rất khó hình dung một lớp cử nhân chất lượng cao ở một đại học nước ngoài, xa như của Mỹ, Úc, hay gần như láng giềng Singapore chẳng hạn, nơi bác Lý vừa mới qua đời đã dấy lên một loạt tranh luận ở Việt Nam thay cho tranh luận về chặt cây hay ôm cây, tranh luận này, đến lượt nó thay thế cho tranh luận về có ruồi hay không có ruồi, mà chắc chắn nếu không có ruồi thì tôi đã viết một tiểu thuyết vĩ đại ngang ngửa 2666 của Roberto Bolano hay xa hơn, Tristram Shandycủa Laurence Sterne, cả hai đều có hằng hà sa số những đoạn ngoại đề, ngoại đề thôi chứ không trữ tình, cuốn đầu, đọc xong đã có thể coi là một thành tựu vĩ đại, vì bản tiếng Anh đã dài hơn 900 trang ken đặc chữ, thỉnh thoảng chèn vào những liên tưởng lạ lùng, đôi khi từ thần thoại Hy Lạp, đôi khi từ Kinh Thánh, đôi khi từ một thế giới khác, có lẽ vì bản thân Bolano không chỉ là tiểu thuyết gia mà còn là nhà thơ, và ông coi mình là nhà thơ hơn là tiểu thuyết gia, và ông cũng nói cuốn sách duy nhất của ông không làm ông đỏ mặt khi nhắc tới lại là Antwerp, một cuốn sách khổ nhỏ, mỏng dính, chưa tới trăm trang, về hình thức là văn xuôi nhưng về tinh thần lại gần với thơ hơn, vì vậy khó đọc do chứa đựng quá nhiều hình ảnh khó nắm bắt, tuy tôi có thể nuốt hơn một cuốn 900 trang như 2666 hay gần 700 trang như The Savage Detectives, nhưng không thể nào đọc quá ba trang cuốn Antwerp này mà không bỏ sách xuống, một tình trạng rất khác tình cảnh khi đọc 2666, bởi đọc 2666 có muốn bỏ sách xuống cũng khó, vì ngay khi nảy ra ý định đó thì người đọc đã tê tay, một vấn đề cho thấy để đọc sách ngoài việc ham đọc, muốn đọc, người ta còn phải có thể lực tốt, đó có thể là lý do mà nhiều bạn bè tôi, sau khi tốt nghiệp đại học đã trở nên xa lạ với sách, cụ thể họ không đọc nữa, việc họ không đọc có nhiều nguyên nhân, tôi đoán thế, nhưng một trong các nguyên nhân có thể  là họ sa sút về thể lực, nên nhấc cuốn sách lên và giữ nó trên tay hàng giờ là một đòi hỏi quá khắc nghiệt về mặt thể chất, mà để nghiền ngẫm sự sa sút về thể chất đó, họ thà ngồi hàng giờ ở quán cà phê thả từng vòng khói vào hư không, về nguyên tắc là vô định, còn cuốn thứ hai, tức cuốn của Laurence Sterne, có thể coi là một ông tổ về tiểu thuyết, thì mất hàng trăm trang mà chưa kể xong sự ra đời của mình, motif này được nhìn thấy lại trong Những đứa con của nửa đêm của Salman Rushdie, phải gần hai trăm trang sách khổ to và chữ nhỏ, khoảng cách giữa các chữ hẹp, thì nhân vật tôi mới kể xong chuyện mình chào đời, mà sự chào đời ấy đã được mở ra theo phong cách cổ tích ngay từ dòng đầu tiên của cuốn sách, vốn nằm trên kệ nhà tôi từ rất lâu, nếu nói đến bản tiếng Anh thì còn lâu hơn nữa, tôi vốn có sở thích chất sách quanh nhà, bụi bặm tuy khó tránh khỏi nhưng được bao quanh bởi sách là một thú vui, chưa kể, băn khoăn chọn đọc cuốn nào vào thời điểm nào lại là một thú vui khác, chẳng hạn mới ăn cơm xong thì đọc cuốn gì, trước khi đi ngủ thì đọc cuốn gì, và trong ba mươi phút nghỉ trưa thì có thể đọc cuốn gì, đến mệnh đề này thì tôi đã đi rất gần đến chủ đề của bài viết, nhưng rất có thể những gì tôi viết sẽ không đâu vào đâu, nếu chỉ chăm chăm đi tìm mục đích, rất nhiều khi ta quá chăm chú đến mục đích mà quên mất đường đi, trong khi đường đi là cả một niềm vui lớn, chẳng hạn mới gần đây, rất gần, cụ thể là hôm kia, tôi hoàn thành một việc, rất tình cờ việc ấy đã lấy mất của tôi chín tháng mười ngày, hoặc cũng có chỉ thể chín tháng chín ngày, dĩ nhiên tôi rất vui, rất nhẹ nhõm khi xong việc, nhưng liệu có thể nào tôi đợi đến những chín tháng mười ngày, hoặc cũng có thể chín tháng chín ngày, để hưởng một niềm vui, biết rằng niềm vui ấy không kéo dài quá hai mươi tư tiếng, ắt không, vì cho dù chín tháng mười ngày hoặc chín tháng chín ngày, tôi sẽ không kiên nhẫn đến thế nếu trên đường đi tôi không bỏ qua chút cơ hội nào tận hưởng từng giây phút lăn lê bò toài trên đường, mở rộng tầm mắt, trao đổi với bạn bè, đào sâu suy ngẫm, làm quen với những người bạn mới, và những thứ thu lượm trên đường đi như thế, vô hình hay hữu hình, đều quý giá, mang lại cho tôi sự sảng khoái không kém hơn sự sáng khoái khi hoàn thành công việc, hay ví như việc đọc sách, nhất là tiểu thuyết, đọc tiểu thuyết để làm gì, nhiều người đặt câu hỏi, rất lạ nhiều người hay hỏi như thế, về phương diện này với tư cách một môn nghê thuật tiểu thuyết có vẻ bị đối xử kém công bằng so với hội họa hay âm nhạc, vì giả dụ nếu ai đó hỏi người khác nghe bản nhạc này để làm gì hẳn thế nào cũng bị ném cho một tia nhìn nghi hoặc hoặc khinh khi. Henry Miller, người đồng hành cùng tôi trong suốt hơn hai tháng qua, người cùng tôi ngồi trong góc quán hoặc dưới gốc cây, một thứ cây gần giống cây si nhưng còn nhỏ, tán không quá xum xuê, chỉ đủ để làm dịu một chút cái nắng chang chói của tháng ba, đã bảo nếu ông đọc được một đoạn hay trong một cuốn sách, thì ông sẽ không đọc tiếp, ông sẽ ngưng lại, sẽ đi ra đường, sẽ ngửa mặt nhìn trời, nghe chim hót, hít một hơi thở dài, để cho âm hưởng của đoạn văn đẹp đẽ hoặc sáng láng ấy ngân nga trong đầu, chẳng lý gì mà phải vội vã  lao sang trang tiếp theo, lao về đoạn kết, cái đẹp cần được chắt chiu và tận hưởng. Tôi học ngay bài ấy và áp dụng với chính ngay sách của ông, nên gần hai tháng qua mà sách ông tôi chưa đọc xong, vì cứ đọc được vài đoạn, hoặc nhiều lắm một hai trang là tôi dừng lại, ngẩng mặt lên trời nhìn trần nhà, hoặc nếu đang dưới gốc cây thì nhìn tán cây, hít một hơi dài trong lúc chân gõ nhịp theo giọng Sơn Tùng MTP, hoặc đơn giản nhấc ly cà phê luôn luôn là cà phê đá, cũng được quảng cáo là cà phê sạch nhưng không phải cafesieusach, làm một ngụm. Ghép chữ sạch, hoặc siêu sạch, vào thương hiệu hay quảng cáo của mình rõ ràng không phải phát minh của các bạn chủ cafesieusach. Trước đó, ta đã có nước mía siêu sạch, tôi không biết nên viết hoa hay viết thường, nhưng tôi ý muốn nói đến các tủ nước mía thường xuất hiện tại các trung tâm thương mại, giá bán một ly tầm từ mười bảy đến hai mấy nghìn đồng. Và dĩ nhiên, ta còn có rau sạch, thịt sạch, hải sản sạch, đậu hũ sạch, nước tương không 3-MCPD (một đỉnh cao). Và ta còn có xe buýt mẫu, tuyến đường văn minh, khu phố văn hóa. (Tôi đau lòng biết bao khi thấy bao nhiêu khu dân cư thuần hậu, nhất là ở miền quê, cũng bị dựng lên một cổng sắt vô tri dương dương tấm bảng khu phố văn hoá.) Và giờ thì cử nhân chất lượng cao. Câu hỏi đặt ra đơn giản là: Vậy, phần còn lại thì sao? Rau độc, thịt ôi, nước tương có thể có 3-MCPD và cử nhân chất lượng dấu chấm hỏi? Khi cái đáng lẽ ra là quy chuẩn, là thông thường, lại được quảng bá như yếu tố tạo sự khác biệt, thì ấy là điều bất thường. Điều đáng nói là người tiêu dùng đang phải trả một cái giá cao hơn để được hưởng thụ những dịch vụ, hàng hóa với những tiêu chuẩn lẽ ra là thông thường ấy. Pay the premium to get the standard, not pay the premium to get the premium.) Hôm đầu tiên đến quán, tôi đi một mình. Tôi phát hiện ra quán này sau một bữa trưa lang thang đi ăn một mình. Tôi hay đi ăn trưa một mình không phải vì không tìm ra ai đi cùng, mà vì ít ai chịu đi bộ xa như tôi, vả lại đi một mình cũng tốt, có thể suy nghĩ không bị ai quấy rấy. Trong lúc khoái trá nhâm nhi cà phê, tôi đã kịp vẽ ra kế hoạch mình sẽ làm gì với quán cà phê này trong những ngày sắp tới. (Kế hoạch ấy là, như đã nói, ăn trưa thật nhanh rồi ra đây ngồi tầm 30-40 phút, cầm thêm một cuốn sách. Để cầm sách đi ra đi vào công ty mà không bị ai thắc mắc, tốt nhất kẹp vào một cuốn sổ. Tôi nhớ đã có sẵn một cuốn sổ bìa da, đúng hơn là giả da, trong văn phòng. Sổ năm 2012 hay 2013 gì đó, loại in sẵn ngày tháng năm trên từng trang. Tôi sẽ gỡ hết đống ruột vô dụng bên trong và kẹp sách vào là đã có thể ngụy trang hoàn hảo cho cuốn sách.) Đến lúc gọi tính tiền, sờ túi, thì mới phát hiện ra mình không mang ví theo. Anh chủ quán khoác tay nói bữa sau tính. Bữa sau tôi tự khai, chứ anh chủ quán không thấy đâu, mà chị chủ quán cũng không biết tôi là con nợ. Bữa sau là bữa tôi ngồi với Vĩnh, nên thật ra cũng chưa mang sách theo. (Về Vĩnh: Tôi mới gặp Vĩnh lần thứ hai, mặc dù anh em đọc nhau trên mạng đã lâu. Vĩnh không hay viết về văn chương sách vở như tôi. Vĩnh xuất thân làm  toán, chuyển sang làm báo, rồi giờ làm đậu phụ, hay có những kiến giải về thời sự mà tôi chia sẻ. Ngoài đời, Vĩnh không hoạt ngôn như trên mạng, tôi cũng thế, đâm ra anh em ngồi với nhau chủ yếu nhìn trời, thỉnh thoảng buông một câu, như cà phê thỉnh thoảng rơi một giọt. Vĩnh cũng rất thích cái quán mà tôi phát hiện ra. Có lẽ vì cũng như tôi, ngồi trong những quán như thế này, Vĩnh nhìn ra tinh thần của hẻm Sài Gòn. Tinh thần ấy là gì, đừng hỏi tôi. Cũng hệt như trong nhiều lần tán dóc với bạn bè, mỗi lần tranh luận về dịch thuật, tôi hay nói rằng trong dịch tiểu thuyết, quan trọng nhất là chuyển tải đúng “tông” tác phẩm. Cũng đừng hỏi tôi “tông” là cái gì, làm sao thì biết đúng “tông” hay không đúng “tông”. Chẳng phải thứ gì cũng đo đếm, định lượng được đâu. Ảnh chứng minh nhân dân chụp đúng từng nét một, không bỏ qua cả cái một cái nốt ruồi e thẹn nằm lấp ló, thì vẫn chỉ có thể là ảnh chứng minh nhân dân chứ chẳng thể nào là ảnh nghệ thuật được.) Phải đến bữa sau nữa thì cái kế hoạch mà tôi vẽ ra từ hôm đầu tiên đến quán mới bắt đầu được thực hiện. Cuốn sách tôi chọn mang theo là cuốn tôi đã bắt đầu đọc từ khá lâu, nhưng mỗi ngày chỉ đọc được hai, ba trang, chủ yếu trước giờ đi ngủ. Đó là một cuốn tuyển tất cả những gì Henry Miller viết về viết văn, trích ra từ những cuốn sách khác của ông. Sách do một nhà Henry Miller học biên soạn (kiểu như nhà Văn Cao học, hay nhà Vũ Trọng Phụng học). Tôi biết đến cuốn này nhờ vào cuốn Con đường sáng tạo của Nguyễn Hữu Hiệu, trong đó Nguyễn Hữu Hiệu có dịch một bài viết của Henry Miller. Đây là một cuốn sách thích hợp để đọc vào những giờ nghỉ trưa ngắn ngủi, mỗi lần vốn chỉ đủ thời gian đọc vài trang và cũng chỉ nên đọc vài trang, vì ta có thể mở bất cứ trang nào và đọc bất cứ đoạn nào, hoàn toàn không cần dùng bookmark. (Tiện thể, vài năm gần đây, mua sách thường được tặng kèm bookmark, thật là cái phong hoá sách của ta bây giờ đã bằng năm bằng mười năm ngoái.) Hầu như trang nào cũng có vài câu khiến tôi phải dừng lại, đọc lại, hoặc dừng lại hẳn, như thể trưa hôm đó với tôi đọc được câu đó thôi là đủ, mặc dù văn của Henry Miller là thứ văn cực kỳ trôi chảy, như một dòng sông không ngừng tuôn, biết rằng để viết được dòng văn tuôn chảy ấy, Henry Miller đã trải qua những năm vật vã như thế nào. Ông đã viết văn chuyên chú trong bảy năm trời liên tục mà không xuất bản được bất kỳ một cuốn sách nào. (Yên tâm nhé bạn, hai cuốn tiểu thuyết nhét trong hộc tủ chưa là gì, mặc dù trường hợp của bạn sách không ra được lý do có khác.) Ông đã học được rằng, người ta phải viết nhiều, rất nhiều, trước khi ký tên của mình lên một cuốn sách. Ông đã học được rằng, để trở thành nhà văn, người ta phải từ bỏ mọi thứ và không làm bất cứ gì khác ngoài viết, rằng người ta phải viết và viết và viết, kể cả khi tất cả mọi người trên thế giới khuyên bạn nên bỏ cuộc, bảo bạn rằng văn chương của bạn là thứ rác rưởi, không ai tin bạn cả. Ông đã nhận ra rằng không phải ngủ một đêm dậy là người ta trở thành nghệ sĩ, mà trước hết, “bạn phải bị nghiền nát, để cho những quan điểm trái ngược của bạn bị huỷ diệt. Bạn phải bị xoá sạch với tư cách một con người để tái sinh như một cá thể.” Ông cũng học được rằng chỉ cần mỗi ngày viết đều đặn hai hay ba tiếng đồng hồ thôi thì người ta có thể viết được những cuốn sách dày cỡ nào cũng được, không nhất thiết phải đính mông vào ghế mười tiếng một ngày. Một chiến lược tương tự có thể áp dụng cho việc đọc: đều đặn đọc mỗi ngày hai tiếng, người ta có thể đọc được hầu hết những gì đáng để đọc. Đừng hỏi lấy đâu ra hai tiếng một ngày. Nếu có thời gian xem tivi, uống bia, chém gió, lướt web, lên facebook, đi ra đi vô không làm gì, thì tất có thời gian để đọc. Vấn đề là muốn hay không mà thôi. Ở quán cà phê cóc này mỗi trưa tôi đọc Miller. Anh chị chủ quán rất ý tứ, hôm nào tôi ngồi ngoài sân thì thôi, hôm nào tôi ngồi trong nhà dẫu đang mở Sơn Tùng hay Bằng Kiều anh chị sẽ chuyển sang nhạc không lời hoặc tắt hẳn. Thật ra có để nhạc có lời tôi cũng không phiền. Tôi đọc Miller và tôi xiết bao mong những người bạn viết của tôi cũng được đọc cuốn này. Bạn viết, tức là bạn có viết lách, không phải bạn viết theo nghĩa bạn văn. Tôi chưa bao giờ coi tôi là người viết cả. Tôi đặc biệt nhớ tới Đức. Tôi nghĩ nếu quẳng nó sang Paris bảy năm chắc nó sẽ viết được như Miller, vì nó có những phẩm chất khá giống Miller. Chẳng hạn những chuyện nó viết đều là tự truyện. Miller cũng thế. Một thời điểm nào đó ông quyết định rằng ông chỉ có thể viết về những gì mà ông biết rõ, mà biết rõ nhất là cuộc đời của chính mình, vì vậy toàn bộ sách ông biết đều là tự truyện. Ông rẻ rúng văn chương, ông đặt cuộc đời lên trên văn chương, hơn một lần ông nói rõ điều đó. Tất nhiên, có những nhà văn ông yêu thích và chịu ảnh hưởng, nhưng những người ông ngưỡng mộ hơn cả là Jesus, Lão Tử, Thích Ca, Ramakrishna, Krishnamurti, vì ảnh hưởng của họ đối với cuộc đời. Ông nói: “Thước đo duy nhất tôi sử dụng là cuộc đời: con người ta đứng thế nào trong mối tương quan với cuộc đời.” Và nói: “Các thiên tài đều là những con đĩa hút chung thứ máu: cuộc đời.” Máu sẵn có, vấn đề ta có biết cách hút hay không thôi. Tôi mong người viết, cho dù tài tử hay chuyên nghiệp, như Đức đọc được cuốn sách này. Nhưng Đức không thạo tiếng Anh, mà chỉ giỏi tiếng Nga. Có lẽ tôi sẽ dịch cuốn sách này, Henry Miller on Writing, sang tiếng Nga cho nó.

Monday, 8 December 2014

Linh tinh mùa Giáng Sinh

Sáng nay, thứ hai đầu tuần, tôi đi viếng một người đồng nghiệp. Tin anh mất là là một cú sốc cho tất cả những người quen biết. Anh mới ngoài năm mươi, giữ một trong những vị trí cao nhất trong công ty. Anh đang phụ trách một dự án lớn. Hồi tháng 9, khoảng một tuần không gặp anh, email anh cũng không trả lời, cứ nghĩ anh đang bận đi công tác như mọi khi. Sau đó mới biết anh bị chẩn đoán ung thư gan. Anh vừa tiễn cậu con trai lên đường du học mới vài tuần trước đó. Còn nhớ, giữa lúc dự án đang bận rộn, anh nghỉ phép mấy ngày. Anh không nói gì nhưng đồng nghiệp bảo gia đình anh tranh thủ đi chơi cùng nhau trước lúc cậu con trai lên đường. Sáng nay, nhìn di ảnh anh, không khác mấy hình anh vẫn dùng trong các ấn phẩm nội bộ công ty. Cậu con trai học lớp 11, mặt mũi khôi ngô, giống anh như tạc, cả cách nói chuyện.

Đi viếng về, tôi và một anh đồng nghiệp ghé quán ăn trưa. Anh em bảo nhau, sống đấy chết đấy, phù du lắm, thế nên phải bớt sân si. Tôi phục những người có khả năng chửi người khác cả năm trời. Tôi cũng phục những người nuôi mối thù năm này sang năm nọ. Chả phải nói gở, ngày nào đọc tin trên báo, cũng có người đang yên đang lành bị BMW đâm vào người hoặc bị thép trên trời rơi xuống. Có ai đang vui khỏe hình dung ra cái chết của mình đâu. Tranh giành nhau, hận thù nhau, lỡ đạp phải cái cống mà không có nắp lúc mưa to, hay rút tiền trúng cái ATM chập mạch, cũng chết. Xuống tuyền đài còn ai mà ganh đua, bon chen. Sao không buông đi.

Cách đây năm năm, tôi bắt đầu đọc Paul Auster. Chủ đề yêu thích của Paul Auster là tính ngẫu nhiên, sự vô thường. Tất nhiên Auster không dùng chữ vô thường. Chữ này, trong ngôn ngữ nghệ thuật Việt, dường như dính chặt với Trịnh Công Sơn mất rồi. Có một truyện của Auster, đọc lâu quên tựa, hình như Oracle Night, kể chuyện một anh nọ, đêm ra đường đi dạo thì một tảng bê tông của một công trình xây dựng rơi xuống sát chân mình. Anh thoát chết trong gang tấc. Sự kiện ấy vĩnh viễn thay đổi cuộc đời anh. Những gì diễn ra sau đó, tôi không nhớ rõ lắm, nhưng có chi tiết anh ra phi trường, mua một vé máy bay bất kỳ, đi đến một thành phố xa lạ rồi nhốt mình vào một căn phòng nào đó.

Giáng sinh năm nay tôi không còn đọc Paul Auster. Những cuốn gần đây ông làm tôi chán ngấy. Nhưng Auster là một dấu ấn với tôi, đánh dấu thời gian tôi trở lại với tiểu thuyết.

Mùa Giáng sinh năm nay, tôi soi gương thấy tóc mình có vài điểm bạc. Tôi tập thể dục đều đặn, ý thức rõ rằng nếu không tập thì cơ thể có thể phản bội mình.

Tôi phóng xe ra Nhã Nam thư quán, mua toàn bộ những tập thơ trong bộ Việt Nam Danh tác. Điêu tàn, Tiếng thu, Mê hồn ca, Lỡ bước sang ngang, Quê ngoại, Gái quê – Xuân như ý. Tôi ngồi ở Nhã Nam một mình, đọc lại những vần thơ mà phần lớn tôi từng thuộc lòng. Cảm giác đọc thơ từ những ấn phẩm xinh xắn vẫn khác. Sẽ rất vô duyên nếu đọc thơ trên Kindle. Thơ cần một đối xử khác, và với bộ sách này, thơ được đối xử đẹp.

Tôi đọc thơ, và nhớ lại những năm mười sáu, mười bảy tuổi của mình, và nghĩ về tuổi mười bảy của tác giả Điêu tàn, tuổi mười tám hai mươi của hầu hết các nhà thơ thời ấy. Không phải bài thơ nào của họ cũng vượt thời gian, nhưng không khí thơ mà họ tạo ra thời ấy thì vượt thời gian.

Mùa Giáng sinh năm nay, tôi nhìn những đứa con mình đang lớn lên. Tôi dựng cây thông Noel, cùng ba mẹ con đi mua đồ về rồi cùng nhau trang trí. Alpha hí hoáy suốt buổi chiều gói quà cho ba, mẹ, và em Pi. Gói quà cho ba, mẹ, Alpha viết dòng chữ: Ông già Noel kính tặng ba V., mẹ Q. Ông già Noel quả thật rất lễ phép.

Chiều chủ nhật, Alpha và Pi được đi xem liên hoan phim khoa học, có phim về ô tô chạy bằng chanh. Về nhà, Pi mơ màng, nếu trái đất này có thật nhiều chanh, thì tất cả ô tô có thể chạy bằng chanh và sẽ không còn ô nhiễm. Pi đã viết một bài văn ngắn về con chó Lucky đã chết của bác N., kết thúc bằng câu, em rất buồn khi nó chết, em mong nó sẽ sống lại.

Từng mùa Giáng sinh qua đi, những đứa trẻ lớn lên, chúng ta có già đi, nhưng vẫn không thôi lãng mạn và yêu thương.

Giáng sinh an lành.

Friday, 17 October 2014

Ngựa thép của Phan Hồn Nhiên



Phải đến Ngựa thép, Phan Hồn Nhiên mới gọi tác phẩm của mình là tiểu thuyết. Với những tác phẩm trước đây như Công ty hay The Joker, Phan Hồn Nhiên chỉ gọi đó là truyện dài (thật ra, tôi chưa đọc tác phẩm nào khác của Phan Hồn Nhiên). Tuy sự phân chia thể loại không nhất thiết phải quá rạch ròi, nhưng qua việc này, có thể nhận thấy Phan Hồn Nhiên đã rất cẩn trọng với việc dán nhãn tác phẩm của mình. Phan Hồn Nhiên quan niệm rằng tiểu thuyết phải đi xa hơn việc kể một câu chuyện. Chính vì lẽ đó, nếu đi tìm câu chuyện của Ngựa thép, người đọc sẽ bối rối.  Rõ ràng có nhiều hơn một câu chuyện, mà lại rất khó kết nối các câu chuyện ấy với nhau.

Tác giả đã gọi tác phẩm của mình là tiểu thuyết, và người đọc cũng có cảm giác mình được đọc một tiểu thuyết đích thực, bởi lẽ Ngựa thép nắm bắt được tính phức tạp và bất ngờ vốn tiềm tàng ở mỗi cá nhân con người, cũng như trong quan hệ giữa họ với nhau, nhưng thường lại hay bị quy giản. Ngựa thép đi vào những mối quan hệ không nhiều khi được đề cập trong văn chương Việt Nam: tình cảm cảm thông và thẳng thắng giữa cha dượng và con riêng của vợ, sự gắn bó và đố kỵ giữa hai anh em song sinh, sự thấu hiểu kỳ lạ giữa một cô gái đánh mất trí nhớ sau tai nạn và một chuyên gia ngôn ngữ. Những nhân vật ấy vừa lạ lẫm vừa quen thuộc. Lạ lẫm vì nếu so với cuộc đời mà ta biết, ta chưa từng gặp những con người tương tự như vậy; còn quen thuộc vì, trong một góc sâu kín nào đó, cách ứng xử cách suy nghĩ của những nhân vật ấy rất có thể là của chính ta. 

Trong Ngựa thép, Phan Hồn Nhiên cũng thử nghiệm trò chơi cấu trúc. Tiểu thuyết gồm ba phần chỉ kết nối với nhau bằng một số chi tiết nhỏ. Cấu trúc này gợi nhớ đến bộ ba phim Xanh, Trắng, Đỏ của đạo diễn Ba Lan Krzysztof Kieslowski, hoặc tiểu thuyết The Blindfold của Siri Husdvet. Trong phần một, giọng kể lần lượt thay đổi từ người cha dượng, sang người mẹ rồi đến cô bạn gái, qua đó Sơn - có thể gọi là nhân vật chính của phần một - hiện lên từ các góc nhìn khác nhau. Phần ba lại có tiểu thuyết lồng trong tiểu thuyết: chen giữa tiểu thuyết về cô gái mất trí nhớ và chuyên gia ngôn ngữ, là cuốn tiểu thuyết mà cô gái được yêu cầu đọc để phục hồi trí nhớ của mình. Ba phần của tiểu thuyết giống như ba bức tranh trong cùng một bộ treo cạnh nhau, cùng trình diễn sự cô độc của con người trong thế giới hiện đại.

Về mặt ngôn ngữ, Ngựa thép có phần hơi Tây. Đôi chỗ cách dùng các đại từ khiến người đọc cả cảm giác mình đang đọc một tiểu thuyết dịch.  Bỏ qua những lấn cấn về ngôn ngữ đó, cuốn sách vẫn có nhiều đoạn văn cảm động. Tổng thể, Ngựa thép là một cuốn tiểu thuyết đẹp, đáng đọc.


Tuesday, 10 June 2014

Ngắm Orhan Pamuk chạm trổ thời gian

Ngắm Orhan Pamuk chạm trổ thời gian

Nguyễn Vĩnh Nguyên

(TBKTSG) - Có vẻ như những cuốn tiểu thuyết của Orhan Pamuk (Nobel văn chương 2006) phù hợp để đọc vào những ngày mùa đông giá lạnh, lúc một mình thư thái hơn là những ngày hè nóng nực, giữa chốn xô bồ. Càng không thể đọc khi chưa hoạch định cho mình một quỹ thời gian nhất định, “dọn mình” để chìm đắm vào những trang văn tinh vi khắc kỷ.

Nhiều người không đọc được Tên tôi là Đỏ, Tuyết, Pháo đài trắng hay kể cả cuốn Hồi ức Istanbul (đều đã dịch sang tiếng Việt) viết tỉ mỉ quá mức về những thứ trong thư viện, bảo tàng gia đình, căn phòng, ngôi nhà, đường phố, cảng thị, quán xá, con người nơi nhà văn lớn lên và gắn bó tới mức chưa từng nghĩ sẽ có ngày xa rời nó.

Cũng phải cảm thông cho những độc giả không chuyên - vì chắc rằng, kể cả những con mọt sách cũng có khả năng trở thành kẻ dối lòng nếu nói chưa từng rơi vào cảm giác sốt ruột khi đọc sách của nhà văn người Thổ Nhĩ Kỳ này.

Nhưng rồi cũng có một điều chắc chắn, văn chương của Orhan Pamuk khiến người ta nghiêm túc hơn trong việc đọc. Và nhất thiết bản thân người đọc phải xác lập một hệ trục thời gian khác để bước vào những trang sách đang tĩnh tại mời gọi, khiêu khích chúng ta thâu tóm, chiếm lĩnh chúng theo một cái duyên ngầm ẩn nào đó rất khó lý giải.

Trước hết, để hiểu Pamuk-nhà văn, hãy hiểu một Pamuk-người đọc. Ở cuốn tiểu luận Những màu khác mà ông gọi là những phân mảnh, người đọc gặp Orhan Pamuk là một người đọc trung tín, độc lập phía sau một nhà phê bình sắc sảo khi ông “note” (ghi chú) việc đọc tác phẩm của những nhà văn giàu cá tính: Thomas Bernhard, Salman Rushdie, Albert Camus, Nabokov hay Dostoyevsky...

Thông qua ghi chép về việc đọc, cách đọc của Orhan Pamuk, ta hiểu thêm về quan niệm viết văn, quan niệm tiểu thuyết của ông. Trong Cái thú đọc sách, Pamuk viết về ấn tượng khi đọc Tu viện thành Parme của Stendhal: “Nói cho cùng, một tiểu thuyết tuyệt diệu trở thành một phần không tách rời của cuộc sống và thế giới quanh ta, mang ta lại gần hơn ý nghĩa cuộc đời; nó đến thế chỗ cho niềm hạnh phúc ta có thể chẳng bao giờ tìm thấy trong cuộc sống để trao ta niềm vui sướng xuất phát từ ý nghĩa của nó”.

Mối tương quan nhà văn với chính trị, trí thức với xã hội cũng được ông đề cập nhiều trong phần Chính trị, châu Âu và những vấn đề khác của việc là chính mình. Tại đây, con người văn chương thuần túy tưởng đóng cửa im ỉm trong bốn bức tường, say sưa với các món cổ ngoạn, tô vẽ cho những tiểu họa chữ nghĩa như Orhan Pamuk vẫn không tách rời thái độ chính trị, trách nhiệm trí thức trong bối cảnh hiện đại của Thổ Nhĩ Kỳ.

Về mặt cấu trúc cuốn sách Những màu khác, không phải vô tình khi Orhan Pamuk đưa bài “Ông viết cho ai?” vào sách. Trước câu “chất vấn” thường thấy của các phóng viên - ông viết cho ai?, ông bàn sâu vào đối tượng độc giả mà một nhà văn ngày nay hướng đến.

Nếu ở thế kỷ thứ 19, nghệ thuật tiểu thuyết cơ bản là nghệ thuật quốc gia; Dickens, Dostoyevsky hay Tolstoy xác định viết văn cho một tầng lớp trung lưu đang trỗi dậy, đọc và viết tiểu thuyết là tham gia cuộc thảo luận trên toàn quốc về những vấn đề hệ trọng của đất nước, thì trong hiện tại, sự kết hợp giữa chủ nghĩa hiện đại và nghệ thuật tiểu thuyết vừa mang lại cho văn chương văn học một vị trí cao quý, vừa đặt nhà văn vào một thế lưỡng nan, thử thách: trung thành với chủ nghĩa quốc gia, phục vụ độc giả địa phương hay hướng tới đối tượng đọc toàn cầu hóa; vì những vấn đề chính trị bản địa, bản sắc hay tách rời truyền thống văn hóa để hướng đến những thế giới giao cảm xa lạ khác?

Cuối cùng, từ một cảm quan “đầy bất ổn về trật tự văn hóa mới”, câu trả lời của Orhan Pamuk là: “Chẳng lấy đâu ra một người đọc không bị ràng buộc bởi những cấm đoán xã hội và huyền thoại quốc gia, cũng như không thể tồn tại cái gọi là tiểu thuyết gia lý tưởng. Nhưng - cho dù là quốc gia hay quốc tế - chính là vì các độc giả lý tưởng mà các tiểu thuyết gia viết văn, trước hết bằng cách tưởng tượng người đọc đó hiện hữu, và rồi bằng cách viết sách với người đọc đó trong đầu” (trang 285).

Và, như những đoạn nhạc dạo thong thả, một lần nữa, Orhan Pamuk sẽ lại thử thách ta trong những trang viết tỉ mỉ về bìa sách, chuyện loại bỏ những cuốn sách khỏi thư viện, chuyện con hải âu đậu ngoài cửa sổ, con hải âu già đi và chết như thế nào...

Orhan Pamuk trình hiện trước mắt ta những tảng thời gian được chạm trổ thành khối, mỗi đường nét của nó có sức phản chiếu nội tâm trung thực nhất, vi tế nhất, ngay cả khi ông chủ ý gọi đó chỉ là những phân mảnh rời rạc.

Đọc ông trong một thư viện vào một sáng mùa đông tĩnh lặng, có thể bạn sẽ nghe được tiếng rì rầm của những cuốn sách trên kệ trò chuyện với nhau. Đó là niềm vui sướng và cũng là cái giá khi trở thành “một độc giả lý tưởng”.

(Đọc Những màu khác, Orhan Pamuk do Lâm Vũ Thao dịch, Nhã Nam & NXB Văn học, 2013, 482 trang, giá bìa 120.000 đồng)

http://www.thesaigontimes.vn/113542/Ngam-Orhan-Pamuk-cham-tro-thoi-gian.html
 

Monday, 19 May 2014

Taxi

Tôi chả nhớ đích xác lần đầu tiên mình đi taxi là khi nào, nhưng tôi chắc chắn rằng đến bây giờ mình phải có trên hai mươi năm kinh nghiệm đi taxi chứ không ít. Từ khi chưa đi taxi lần nào tôi đã biết taxi là một phương tiện tốn tiền, nhờ vào sách Streamline English. Cái thời tôi bập bẹ tiếng Anh, cả nước học cùng một giáo trình Anh ngữ. À, có thể hai, ngoài Streamline English còn có New Concepts, cả hai đều có những băng cát-sét sang đi sang lại chục lần, nghe tiếng người nói thì ít, tiếng rọt rẹt thì nhiều, đâm ra có một thế hệ nói tiếng Anh mở mồm ra toàn ọt ẹt. Sách Streamline English có một mẩu hội thoại đại khái một cô bảo anh đi taxi đi thì anh kia trả lời tao ếch phải là mi lơ ne. Từ đó tôi hiểu rằng phải mi lơ ne mới đi taxi được, nên dân Việt bây giờ hầu như ai cũng [từng] đi taxi.

Tôi ghét mọi sự khát quát hóa vội vàng, nhưng tôi tin quan sát taxi cho ta biết khá nhiều điều về một thành phố. Ở Brisbane, Úc, các bác tài taxi thường rất lịch thiệp, khách ngồi lên taxi rồi, đợi khách thắt dây an toàn xong sẽ nhã nhặn hỏi, “Where are you travelling today?”. Thời tôi mới sang Úc, do ảnh hưởng của sách Streamline English, nên cứ tưởng họ hỏi mình tính du lịch ở đâu. Mất một thời gian tôi mới nhận ra “travel” không nhất thiết phải là “du lịch” mà đơn giản chỉ là đi. Ở Singapore, tài xế taxi thường là các bác người Hoa già, nói tiếng Anh đậm giọng Hoa, phóng xe rất nhanh, thái độ cũng rất chuyên nghiệp, nhận thanh toán bằng thẻ tín dụng. Ở New York, giữa hành khách và tài xế, có một tấm kính chắn lên ắt vì tỷ lệ tội phạm cao ở đây, khách và tài xế giao tiếp với nhau thông qua mấy cái lỗ thông hơi . Tài xế taxi ở Mỹ gọi khách bằng sir, lịch sự nhưng không vồn vã, và dĩ nhiên khi xuống xe chớ quên tiền tip. Tài xế taxi ở Thượng Hải hay Quảng Châu thì ưa đổi làn liên tục, hình như triết lý của họ là làm đầy mọi khoảng trống, nên thấy bất cứ khoảng trống ở bất cứ làn nào là lao vào ngay. Triết lý này phù hợp với những người thiếu kiên nhẫn nhưng không thích hợp lắm với hội tiền đình.

Tài xế taxi ở Sài Gòn những năm trước thì có tật ưa để tổng đài kêu rột rẹt, nhưng giờ thì đỡ nhiều rồi. Lên taxi ở Sài Gòn, thường khách là người nói nơi đến, vì các bác taxi Sài Gòn nhìn chung khá kiệm lời. So với taxi Hà Nội chẳng hạn, thì các bác tài Sài Gòn đã ít bấm còi hơn rất nhiều, và nói chung là không có kiểu đá đèn đòi vượt liên tục. Tài xế taxi ở Đà Nẵng và Hội An lái xe lành, dễ thương, tuy nhiên vẫn có tật ưa bấm còi.

Mặc dù vậy, vô địch thủ về bấm còi vẫn là taxi Hà Nội. Các bác tài ở đây cũng rất ít kiên nhẫn, ưa đổi làn, và ưa chạy sát đít xe trước và nhá đèn. Họ cũng tích cực tham gia câu chuyện của khách. Nhiều lúc khách đang say sưa nói chuyện với nhau, chợt giật mình cái độp vì từ ghế trước bác tài hào hứng lên tiếng góp chuyện. Khi không góp chuyện, thì họ có thể gọi điện thoại, có khi còn nhắn tin, hoặc cao hứng cất tiếng hát. Có lần, trên đường từ sân bay về, bác tài của tôi liên tục gọi điện cho ai đó để hẹn điểm đón khách. Tôi bảo anh đang chở khách đây, khi nào khách xuống rồi thì anh hãy lo tìm khách khác chứ. Bác tài nghe chừng rất ngạc nhiên, bảo phải lo trước để khách này xuống thì có khách khác ngay. Anh chăm tăng gia sản xuất thế, vợ con ắt rất vui, riêng khách thì không vui lắm vì sợ anh ủn đít xe trước hay lủi vào con lươn.

Vậy hơn hai mươi năm kinh nghiệm đi taxi có ích gì? Thật ra cũng chẳng ích gì, ngoài việc giúp gõ được vài dòng gọi là mua vui cũng được một vài phút nghỉ trưa.

Friday, 2 May 2014

Giai cấp công nhân tiên tiến

Hôm nay, thứ sáu ngày 2/5, ngày Quốc tế các Công chức, Viên chức, giai cấp công nhân tiên tiến do không phải công chức viên chức nên vẫn đi làm. Đường vắng như ngày giáp Tết, nên chẳng mấy chốc giai cấp công nhân đến văn phòng, sớm hơm ngày thường những mười lăm phút. Văn phòng cũng vắng, giai cấp công nhân bèn review nhà sách Fahasa Nguyễn Huệ mới khai trương.

Chuyện là người công nhân nghe báo đài nói Fahasa khai trương nhà sách mới ở 40 Nguyễn Huệ nên xăng xái đi xem. Đến nơi, hóa ra nó chính là nhà sách Fahasa Nguyễn Huệ cũ, chỉ mông má lại chút ít, thế mà cứ ầm ĩ khai trương với chả khánh thành. Nhà sách bình mới rượu cũ, bình cũ rượu mới này về cơ bản không khác gì nhà sách trước đây, vị trí các phân khu sách vẫn thế, phong thủy vẫn ở chỗ phong thủy, đồ chơi vẫn ở chỗ đồ chơi, chỉ trông sáng sủa, sạch sẽ hơn vì mới được tân trang nội thất. Chắc ai đó vẫn tiếc mấy tấm thảm đỏ đỏ cũ cũ bẩn bẩn, nên đôi chỗ vẫn để lại như xưa, nhìn vào rất miên man ký ức. Một số kệ được dẹp bớt, chừa chỗ cho lối đi, nên trông thoáng hơn. Sách có cố sắp xếp để dễ nhìn hơn, các đầu sách cùng tác giả được xếp gần nhau, nhưng nhìn chung vẫn không hiểu được xếp theo trật tự nào, muốn tìm một đầu sách nhất định thì không có cách nào ngoài việc rảo hết các dãy kệ.

Sách ngoại văn dồi dào hơn trước. Khu tiểu thuyết, trước đây thường chỉ có sách trinh thám, hình sự và tiểu thuyết classic, thì nay có khá nhiều tiểu thuyết văn học đương đại. Một số tác giả được ưu ái khác thường: John Banville, Cormac McCarthy, Breathe Easton Ellis, Don Delillo mỗi người có năm bảy đầu sách. Có cả Essays in Love của Alain de Botton, The Savage Detectives của Roberto Bolano, Three Strong Women tức Ba phụ nữ can đảm của Van Ho. Đặc biệt, có tới bốn cuốn của Cees Nooteboom, nhà văn Hà Lan, mấy lần ngấp nghé Nobel. Giá các cuốn này đều khá mềm so với giá bán ở nước ngoài, thậm chí mềm so với sách Việt của NXB Trẻ hay Phương Nam. Cuốn The Savage Detectives đâu có hơn hai trăm ngàn, còn Blood Meridian của Cormac McCarthy có trăm chín chục.

Giai cấp công nhân đi về mà không mua cuốn nào, trừ bốn tập Doraemon cho giai cấp công nhân con. Trước đây, Fahasa mà lòi ra một đầu sách như thế thì biết tay chàng. Nhưng bây giờ, hơi nhiều lựa chọn tí, chàng đâm chảnh, tự nhủ, nhiều cuốn hay ho thế, chắc chả ai mua, lúc nào mình mua chả được. Về nhà, giai cấp công nhân lôi từ kho sách 3.000 cuốn của mình ra, bắt đầu đọc The Spy Came In From the Cold. Phê phê là.