Friday, 17 October 2014

Ngựa thép của Phan Hồn Nhiên



Phải đến Ngựa thép, Phan Hồn Nhiên mới gọi tác phẩm của mình là tiểu thuyết. Với những tác phẩm trước đây như Công ty hay The Joker, Phan Hồn Nhiên chỉ gọi đó là truyện dài (thật ra, tôi chưa đọc tác phẩm nào khác của Phan Hồn Nhiên). Tuy sự phân chia thể loại không nhất thiết phải quá rạch ròi, nhưng qua việc này, có thể nhận thấy Phan Hồn Nhiên đã rất cẩn trọng với việc dán nhãn tác phẩm của mình. Phan Hồn Nhiên quan niệm rằng tiểu thuyết phải đi xa hơn việc kể một câu chuyện. Chính vì lẽ đó, nếu đi tìm câu chuyện của Ngựa thép, người đọc sẽ bối rối.  Rõ ràng có nhiều hơn một câu chuyện, mà lại rất khó kết nối các câu chuyện ấy với nhau.

Tác giả đã gọi tác phẩm của mình là tiểu thuyết, và người đọc cũng có cảm giác mình được đọc một tiểu thuyết đích thực, bởi lẽ Ngựa thép nắm bắt được tính phức tạp và bất ngờ vốn tiềm tàng ở mỗi cá nhân con người, cũng như trong quan hệ giữa họ với nhau, nhưng thường lại hay bị quy giản. Ngựa thép đi vào những mối quan hệ không nhiều khi được đề cập trong văn chương Việt Nam: tình cảm cảm thông và thẳng thắng giữa cha dượng và con riêng của vợ, sự gắn bó và đố kỵ giữa hai anh em song sinh, sự thấu hiểu kỳ lạ giữa một cô gái đánh mất trí nhớ sau tai nạn và một chuyên gia ngôn ngữ. Những nhân vật ấy vừa lạ lẫm vừa quen thuộc. Lạ lẫm vì nếu so với cuộc đời mà ta biết, ta chưa từng gặp những con người tương tự như vậy; còn quen thuộc vì, trong một góc sâu kín nào đó, cách ứng xử cách suy nghĩ của những nhân vật ấy rất có thể là của chính ta. 

Trong Ngựa thép, Phan Hồn Nhiên cũng thử nghiệm trò chơi cấu trúc. Tiểu thuyết gồm ba phần chỉ kết nối với nhau bằng một số chi tiết nhỏ. Cấu trúc này gợi nhớ đến bộ ba phim Xanh, Trắng, Đỏ của đạo diễn Ba Lan Krzysztof Kieslowski, hoặc tiểu thuyết The Blindfold của Siri Husdvet. Trong phần một, giọng kể lần lượt thay đổi từ người cha dượng, sang người mẹ rồi đến cô bạn gái, qua đó Sơn - có thể gọi là nhân vật chính của phần một - hiện lên từ các góc nhìn khác nhau. Phần ba lại có tiểu thuyết lồng trong tiểu thuyết: chen giữa tiểu thuyết về cô gái mất trí nhớ và chuyên gia ngôn ngữ, là cuốn tiểu thuyết mà cô gái được yêu cầu đọc để phục hồi trí nhớ của mình. Ba phần của tiểu thuyết giống như ba bức tranh trong cùng một bộ treo cạnh nhau, cùng trình diễn sự cô độc của con người trong thế giới hiện đại.

Về mặt ngôn ngữ, Ngựa thép có phần hơi Tây. Đôi chỗ cách dùng các đại từ khiến người đọc cả cảm giác mình đang đọc một tiểu thuyết dịch.  Bỏ qua những lấn cấn về ngôn ngữ đó, cuốn sách vẫn có nhiều đoạn văn cảm động. Tổng thể, Ngựa thép là một cuốn tiểu thuyết đẹp, đáng đọc.


Tuesday, 10 June 2014

Ngắm Orhan Pamuk chạm trổ thời gian

Ngắm Orhan Pamuk chạm trổ thời gian

Nguyễn Vĩnh Nguyên

(TBKTSG) - Có vẻ như những cuốn tiểu thuyết của Orhan Pamuk (Nobel văn chương 2006) phù hợp để đọc vào những ngày mùa đông giá lạnh, lúc một mình thư thái hơn là những ngày hè nóng nực, giữa chốn xô bồ. Càng không thể đọc khi chưa hoạch định cho mình một quỹ thời gian nhất định, “dọn mình” để chìm đắm vào những trang văn tinh vi khắc kỷ.

Nhiều người không đọc được Tên tôi là Đỏ, Tuyết, Pháo đài trắng hay kể cả cuốn Hồi ức Istanbul (đều đã dịch sang tiếng Việt) viết tỉ mỉ quá mức về những thứ trong thư viện, bảo tàng gia đình, căn phòng, ngôi nhà, đường phố, cảng thị, quán xá, con người nơi nhà văn lớn lên và gắn bó tới mức chưa từng nghĩ sẽ có ngày xa rời nó.

Cũng phải cảm thông cho những độc giả không chuyên - vì chắc rằng, kể cả những con mọt sách cũng có khả năng trở thành kẻ dối lòng nếu nói chưa từng rơi vào cảm giác sốt ruột khi đọc sách của nhà văn người Thổ Nhĩ Kỳ này.

Nhưng rồi cũng có một điều chắc chắn, văn chương của Orhan Pamuk khiến người ta nghiêm túc hơn trong việc đọc. Và nhất thiết bản thân người đọc phải xác lập một hệ trục thời gian khác để bước vào những trang sách đang tĩnh tại mời gọi, khiêu khích chúng ta thâu tóm, chiếm lĩnh chúng theo một cái duyên ngầm ẩn nào đó rất khó lý giải.

Trước hết, để hiểu Pamuk-nhà văn, hãy hiểu một Pamuk-người đọc. Ở cuốn tiểu luận Những màu khác mà ông gọi là những phân mảnh, người đọc gặp Orhan Pamuk là một người đọc trung tín, độc lập phía sau một nhà phê bình sắc sảo khi ông “note” (ghi chú) việc đọc tác phẩm của những nhà văn giàu cá tính: Thomas Bernhard, Salman Rushdie, Albert Camus, Nabokov hay Dostoyevsky...

Thông qua ghi chép về việc đọc, cách đọc của Orhan Pamuk, ta hiểu thêm về quan niệm viết văn, quan niệm tiểu thuyết của ông. Trong Cái thú đọc sách, Pamuk viết về ấn tượng khi đọc Tu viện thành Parme của Stendhal: “Nói cho cùng, một tiểu thuyết tuyệt diệu trở thành một phần không tách rời của cuộc sống và thế giới quanh ta, mang ta lại gần hơn ý nghĩa cuộc đời; nó đến thế chỗ cho niềm hạnh phúc ta có thể chẳng bao giờ tìm thấy trong cuộc sống để trao ta niềm vui sướng xuất phát từ ý nghĩa của nó”.

Mối tương quan nhà văn với chính trị, trí thức với xã hội cũng được ông đề cập nhiều trong phần Chính trị, châu Âu và những vấn đề khác của việc là chính mình. Tại đây, con người văn chương thuần túy tưởng đóng cửa im ỉm trong bốn bức tường, say sưa với các món cổ ngoạn, tô vẽ cho những tiểu họa chữ nghĩa như Orhan Pamuk vẫn không tách rời thái độ chính trị, trách nhiệm trí thức trong bối cảnh hiện đại của Thổ Nhĩ Kỳ.

Về mặt cấu trúc cuốn sách Những màu khác, không phải vô tình khi Orhan Pamuk đưa bài “Ông viết cho ai?” vào sách. Trước câu “chất vấn” thường thấy của các phóng viên - ông viết cho ai?, ông bàn sâu vào đối tượng độc giả mà một nhà văn ngày nay hướng đến.

Nếu ở thế kỷ thứ 19, nghệ thuật tiểu thuyết cơ bản là nghệ thuật quốc gia; Dickens, Dostoyevsky hay Tolstoy xác định viết văn cho một tầng lớp trung lưu đang trỗi dậy, đọc và viết tiểu thuyết là tham gia cuộc thảo luận trên toàn quốc về những vấn đề hệ trọng của đất nước, thì trong hiện tại, sự kết hợp giữa chủ nghĩa hiện đại và nghệ thuật tiểu thuyết vừa mang lại cho văn chương văn học một vị trí cao quý, vừa đặt nhà văn vào một thế lưỡng nan, thử thách: trung thành với chủ nghĩa quốc gia, phục vụ độc giả địa phương hay hướng tới đối tượng đọc toàn cầu hóa; vì những vấn đề chính trị bản địa, bản sắc hay tách rời truyền thống văn hóa để hướng đến những thế giới giao cảm xa lạ khác?

Cuối cùng, từ một cảm quan “đầy bất ổn về trật tự văn hóa mới”, câu trả lời của Orhan Pamuk là: “Chẳng lấy đâu ra một người đọc không bị ràng buộc bởi những cấm đoán xã hội và huyền thoại quốc gia, cũng như không thể tồn tại cái gọi là tiểu thuyết gia lý tưởng. Nhưng - cho dù là quốc gia hay quốc tế - chính là vì các độc giả lý tưởng mà các tiểu thuyết gia viết văn, trước hết bằng cách tưởng tượng người đọc đó hiện hữu, và rồi bằng cách viết sách với người đọc đó trong đầu” (trang 285).

Và, như những đoạn nhạc dạo thong thả, một lần nữa, Orhan Pamuk sẽ lại thử thách ta trong những trang viết tỉ mỉ về bìa sách, chuyện loại bỏ những cuốn sách khỏi thư viện, chuyện con hải âu đậu ngoài cửa sổ, con hải âu già đi và chết như thế nào...

Orhan Pamuk trình hiện trước mắt ta những tảng thời gian được chạm trổ thành khối, mỗi đường nét của nó có sức phản chiếu nội tâm trung thực nhất, vi tế nhất, ngay cả khi ông chủ ý gọi đó chỉ là những phân mảnh rời rạc.

Đọc ông trong một thư viện vào một sáng mùa đông tĩnh lặng, có thể bạn sẽ nghe được tiếng rì rầm của những cuốn sách trên kệ trò chuyện với nhau. Đó là niềm vui sướng và cũng là cái giá khi trở thành “một độc giả lý tưởng”.

(Đọc Những màu khác, Orhan Pamuk do Lâm Vũ Thao dịch, Nhã Nam & NXB Văn học, 2013, 482 trang, giá bìa 120.000 đồng)

http://www.thesaigontimes.vn/113542/Ngam-Orhan-Pamuk-cham-tro-thoi-gian.html
 

Monday, 19 May 2014

Taxi

Tôi chả nhớ đích xác lần đầu tiên mình đi taxi là khi nào, nhưng tôi chắc chắn rằng đến bây giờ mình phải có trên hai mươi năm kinh nghiệm đi taxi chứ không ít. Từ khi chưa đi taxi lần nào tôi đã biết taxi là một phương tiện tốn tiền, nhờ vào sách Streamline English. Cái thời tôi bập bẹ tiếng Anh, cả nước học cùng một giáo trình Anh ngữ. À, có thể hai, ngoài Streamline English còn có New Concepts, cả hai đều có những băng cát-sét sang đi sang lại chục lần, nghe tiếng người nói thì ít, tiếng rọt rẹt thì nhiều, đâm ra có một thế hệ nói tiếng Anh mở mồm ra toàn ọt ẹt. Sách Streamline English có một mẩu hội thoại đại khái một cô bảo anh đi taxi đi thì anh kia trả lời tao ếch phải là mi lơ ne. Từ đó tôi hiểu rằng phải mi lơ ne mới đi taxi được, nên dân Việt bây giờ hầu như ai cũng [từng] đi taxi.

Tôi ghét mọi sự khát quát hóa vội vàng, nhưng tôi tin quan sát taxi cho ta biết khá nhiều điều về một thành phố. Ở Brisbane, Úc, các bác tài taxi thường rất lịch thiệp, khách ngồi lên taxi rồi, đợi khách thắt dây an toàn xong sẽ nhã nhặn hỏi, “Where are you travelling today?”. Thời tôi mới sang Úc, do ảnh hưởng của sách Streamline English, nên cứ tưởng họ hỏi mình tính du lịch ở đâu. Mất một thời gian tôi mới nhận ra “travel” không nhất thiết phải là “du lịch” mà đơn giản chỉ là đi. Ở Singapore, tài xế taxi thường là các bác người Hoa già, nói tiếng Anh đậm giọng Hoa, phóng xe rất nhanh, thái độ cũng rất chuyên nghiệp, nhận thanh toán bằng thẻ tín dụng. Ở New York, giữa hành khách và tài xế, có một tấm kính chắn lên ắt vì tỷ lệ tội phạm cao ở đây, khách và tài xế giao tiếp với nhau thông qua mấy cái lỗ thông hơi . Tài xế taxi ở Mỹ gọi khách bằng sir, lịch sự nhưng không vồn vã, và dĩ nhiên khi xuống xe chớ quên tiền tip. Tài xế taxi ở Thượng Hải hay Quảng Châu thì ưa đổi làn liên tục, hình như triết lý của họ là làm đầy mọi khoảng trống, nên thấy bất cứ khoảng trống ở bất cứ làn nào là lao vào ngay. Triết lý này phù hợp với những người thiếu kiên nhẫn nhưng không thích hợp lắm với hội tiền đình.

Tài xế taxi ở Sài Gòn những năm trước thì có tật ưa để tổng đài kêu rột rẹt, nhưng giờ thì đỡ nhiều rồi. Lên taxi ở Sài Gòn, thường khách là người nói nơi đến, vì các bác taxi Sài Gòn nhìn chung khá kiệm lời. So với taxi Hà Nội chẳng hạn, thì các bác tài Sài Gòn đã ít bấm còi hơn rất nhiều, và nói chung là không có kiểu đá đèn đòi vượt liên tục. Tài xế taxi ở Đà Nẵng và Hội An lái xe lành, dễ thương, tuy nhiên vẫn có tật ưa bấm còi.

Mặc dù vậy, vô địch thủ về bấm còi vẫn là taxi Hà Nội. Các bác tài ở đây cũng rất ít kiên nhẫn, ưa đổi làn, và ưa chạy sát đít xe trước và nhá đèn. Họ cũng tích cực tham gia câu chuyện của khách. Nhiều lúc khách đang say sưa nói chuyện với nhau, chợt giật mình cái độp vì từ ghế trước bác tài hào hứng lên tiếng góp chuyện. Khi không góp chuyện, thì họ có thể gọi điện thoại, có khi còn nhắn tin, hoặc cao hứng cất tiếng hát. Có lần, trên đường từ sân bay về, bác tài của tôi liên tục gọi điện cho ai đó để hẹn điểm đón khách. Tôi bảo anh đang chở khách đây, khi nào khách xuống rồi thì anh hãy lo tìm khách khác chứ. Bác tài nghe chừng rất ngạc nhiên, bảo phải lo trước để khách này xuống thì có khách khác ngay. Anh chăm tăng gia sản xuất thế, vợ con ắt rất vui, riêng khách thì không vui lắm vì sợ anh ủn đít xe trước hay lủi vào con lươn.

Vậy hơn hai mươi năm kinh nghiệm đi taxi có ích gì? Thật ra cũng chẳng ích gì, ngoài việc giúp gõ được vài dòng gọi là mua vui cũng được một vài phút nghỉ trưa.