Hiển thị các bài đăng có nhãn MFE. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn MFE. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 21 tháng 3, 2025

Bức xúc không làm ta vô can - a review?

Hồi trước mấy ông bạn tôi lập ra trang Danh Mục Sách, chuyên review sách một cách tào lao. Đại để lấy một cuốn sách ra review, nhưng thực chất nói chuyện tếu táo, không liên quan gì tới cuốn sách cả. Tôi có tham gia hai bài. Đây là một bài trong hai bài đó, "review" cuốn Bức xúc không làm ta vô can của Đặng Hoàng Giang.


Có vĩ nhân nói rằng, một thành phố vượng lên là khi thành phố ấy có nhiều gái đẹp. Lại có vĩ nhân khác nói rằng, không có người đàn bà xấu, chỉ có người đàn bà chưa qua dao kéo. Xâu chuỗi danh ngôn của hai vĩ nhân trên lại với nhau, ta có mệnh đề một thành phố (có thể mở rộng ra thành đất nước) vượng lên khi có nhiều đàn bà qua dao kéo. Kéo giãn mệnh đề trên, ta sẽ có mệnh đề mới: một đất nước thịnh vượng không thể thiếu các bác sĩ giải phẫu thẩm mỹ tài giỏi.
Tất nhiên, như thế nào là tài giỏi là đề tài gây tranh cãi. Có người cho rằng bác sĩ chỉ cần có khả năng làm biến mất một nốt ruồi mọc không đúng chỗ đã là giỏi, có người lại bảo nốt ruồi thì khó gì, phải làm biến mất nguyên một người đàn bà mới giỏi (case reference: Cát Tường). Cãi nhau như thế, chả có luận điểm gì, thì chả khác nào bọn dở hơi biết bơi hay cãi nhau trên Facebook. Các học giả DMS, với châm ngôn hoạt động “rất nghiêm túc và thiếu hiểu biết” không bao giờ sa đà vào các tranh luận vô bổ như thế. Thay vì cãi nhau, DMS xin đưa ra ví dụ một bác sĩ giải phẫu thẩm mỹ giỏi, có thể nói là xuất sắc, chỉ cần nghe tên ông là các đám cãi cọ đều im bặt. Xin thưa, nhân vật chúng tôi muốn giới thiệu chính là Tiến sĩ Bác sĩ Giải phẫu thẩm mỹ Đặng Hoàng Giang, người đã tu nghiệp và hành nghề 20 năm tại một trong những thành phố đẹp nhất thế giới: Viên.
Bác sĩ Đặng Hoàng Giang (xin tránh nhầm lẫn với ông trùm sân khấu Doãn Hoàng Giang và ông trùm xuất bản Vũ Hoàng Giang), sau 20 năm tu nghiệp và hành nghề tại Áo, đã trở về Việt Nam với khát khao nâng cấp vẻ đẹp phụ nữ Việt Nam (tiện tay thì có thể nâng cấp cả nhan sắc đàn ông). Ông không chỉ trực tiếp hành nghề, mà còn thực hiện nhiều nghiên cứu lâm sàng về nhan sắc. Các bài báo khoa học của ông, sau khi đã đăng các tạp chí hàng đầu thế giới, đã được ông đích thân dịch ra tiếng Việt và tập hợp lại thành tập khảo cứu “Bức xúc không làm ta vô can”.
Lần đầu tiên trong lịch sử nghiên cứu nhan sắc Việt, có người (tức ông Giang) đã chỉ ra rằng thói quen sinh hoạt có một mối liên hệ chặt chẽ với nhan sắc, từ đó, ông đưa ra phương pháp phẫu thuật không can thiệp (nguyên văn tiếng Anh: non-intervention surgery). Ví dụ, qua theo dõi một số phụ nữ Hà Nội trung niên có môi trên hơi dẫu đến trung tâm thẩm mỹ do ông sáng lập yêu cầu phẫu thuật chỉnh môi, ông nhận thấy môi họ dẫu có hai nguyên nhân: (i) thói quen phun nước bọt ra đường khi đi xe máy; (ii) thói quen cong cớn mọi lúc mọi nơi. Từ quan sát này, ông đưa ra hướng giải quyết tiêm một liều thuốc ức chế tuyến nước bọt, dẫn đến nước bọt chỉ có thể tiết ra một lượng nhỏ khi ăn mà thôi. Thuốc phát huy hiệu quả 72 giờ sau khi tiêm và có hiệu quả trong 3 năm. Một ví dụ khác, với các phụ nữ có yêu cầu phẫu thuật giảm mỡ bụng, qua theo dõi một lượng mẫu khả tín, ông kết luận rằng những phụ nữ này tích mỡ là do lạm dụng…cáp treo. Họ đi cáp treo lên núi Yên Tử, lên đỉnh Phăng xi pang, thậm chí, cáp treo từ tháp Bút sang Cột Cờ, và từ Ciputra ra Vincom. Giải pháp của ông đơn giản là cắt, không phải mỡ, mà là cáp.
Đôi lúc, bác sĩ tiến sĩ Đặng Hoàng Giang tỏ ra hơi cực đoan. Ông đòi hỏi thay đổi chẳng những về hành vi, mà còn cải tổ về quy hoạch, du lịch, xã hội, văn hóa. Ông cho rằng những yếu tố trên có liên quan sâu xa đến nhan sắc. Chẳng hạn, ông chủ trương cấm xe máy, vì cho rằng việc dạng chân khi ngồi xe máy ảnh hưởng đến xương chậu, khiến cơ thể mất cân đối; ông phản đối mẫu quảng cáo cho rằng sừng tê giác tương đương móng tay, vì ông e ngại người ta chuyển sang gặm móng tay thay vì mài sừng tê, mà gặm móng tay không những làm hỏng móng tay, mà còn hỏng cả răng và môi nữa.
Những nghiên cứu và khảo sát của ông Giang mang tính tiên phong. Có thể, đôi chỗ ta không đồng ý với ông, nhưng không thể không công nhận ông là người nặng lòng với nhan sắc Việt. Những bài viết của ông tuy rất khoa học, hàn lâm, nhưng không khó đọc, nếu không nói có tác dụng thư giãn như một bài phiếm đàm. Chính vì lẽ đó, “Bức xúc không làm ta vô can” là một tác phẩm khiến độc giả bâng khuâng khi đọc xong, và cùng mơ tưởng đến một vẻ đẹp Việt ngày càng rạng rỡ.

Thứ Hai, 10 tháng 3, 2025

Happens to the Heart

Ba cha con lên đường lúc 5 rưỡi sáng. Hai cô cậu còn ngái ngủ, ông bô để một list nhạc cổ điển rồi khoan thai đánh xe. Ba mươi cây số đầu, có không khoan thai cũng không được. Cao tốc Long Thành, có lẽ là cao tốc bận rộn nhất nước, xứng đáng có ít nhất 10 làn xe bao gồm làn khẩn cấp. Phải nói cho rõ chứ bây giờ định nghĩa cao tốc nó cũng ngả nghiêng, cao tốc không có làn khẩn cấp không những kém cả quốc lộ mà còn nguy hiểm hơn (nói cứ như quốc lộ ta chưa đủ nguy hiểm vậy).

Bỏ qua chuyện đường sá vốn chẳng có nhiều chuyện để nói nhất là khi cung đường Sài Gòn Đơn Dương quá quen thuộc mà cũng chẳng nhiều thứ để ngắm nhìn, trầm trồ, ông bô thả hồn vào những giai điệu du dương, dìu dặt. Tất nhiên là ông bô nói xạo. Nói thật là ông bô chăm chú nhìn đít xe trước, còn nhạc nó nó vào tai nào thì vô. Nhạc cổ điển được cái nghe trăm nghìn lần vừa quen vừa lạ, quen ở chỗ nghe thì biết đã nghe nhiều rồi, nhưng lạ vì không nhớ bản nào ra bản nào. Khi lái xe, nhạc không lời là lựa chọn tối ưu vì không làm tài xế phân tâm, nhưng tất nhiên ông bô không thường xuyên lựa chọn phương án tối ưu, như rất nhiều khi khác có quyền lựa chọn.
Được gần nửa đường, công chúa tỉnh giấc. Thật kỳ diệu vì thông thường vào những ngày nghỉ hoặc khi đi xe, công chúa chỉ dậy khi mặt trời đã lên quãng độ hai chục cây sào. Nghe Bách hay Bít gì đó nỉ non vài bản, công chúa đề nghị nghe nhạc do công chúa chọn. Là một ông bố có xu hướng chiều con gái trừ những khi không chiều, ông bô giao điện thoại công chúa. Tức khắc, từ Bách hay Bít, nhạc đã chuyển sang tlinh. Có thể cá rằng hơn nửa số người đọc tút này không biết tlinh là ai, nhưng ông bô thì biết, thậm chí có thể nhận ra bản hit "Gái độc thân". Công chúa đã có lần tuyên bố trong nhà này ba nghe nhạc gần gu con nhất. Thật ra ông bô có thể nghe nhạc từ đông sang tây, từ cổ chí kim, từ bolero Phần Lan sang indie Thụy Điển, từ Phạm Duy sang Ngọt, từ Trịnh sang Kiên nên biết tlinh hay G-Dragon cũng không phải gì lạ thường.
Nhưng được 3 bản tlinh, thì anh Pi tỏ ra thiếu kiên nhẫn. Anh cướp quyền điều khiển Spotify và chèn nhạc của anh vào. Một đoạn intro khá lạ vang lên, rồi dần rõ ra là bản rock của một ban nhạc thập niên sáu mươi, bảy mươi gì đó. Ông bô ngập ngừng đoán, The Rolling Stones hả con? Dạ không, The Who ba. Wow, ông bô tuy có nghe tên The Who nhưng chưa bao giờ thật sự nghe ban này, thế mà ông cu con, vốn chỉ hứng thú với những ban nhạc và ca sĩ cách đây ít nhất nửa thế kỷ, đã mò ra.
Bản kế theo anh Pi chọn là một bản của ca sĩ có chất giọng siêu trầm, Happens to the Heart, của Leonard Cohen. Từ hàng ghế sau, giọng công chúa chói lói, Pi, Pi nghe cái gì vậy Pi, ông này chết rồi phải không? Quả thế. Công chúa càu nhàu, gu nhạc cũng nói lên tính cách con người.
Và từ đó, nhạc trên xe là cuộc chiến đấu giữa một bên là tlinh, Big Bang và một bên là Queen, Cohen, The Beatles cho tới khi ông bô đưa ra quyết định dung hòa: mở list nhạc indie Việt gồm Ngọt, Cá Hồi Hoang, Chillies ... thì không khí trên xe mới yên ổn hơn, bớt những tiếng càu nhàu gầm gừ và những âm thanh chói lói.

Thứ Tư, 5 tháng 3, 2025

Tôi sống thường trực bằng hình ảnh

Trong các giọng thơ trẻ hiện giờ, Huy Bảo là giọng thơ mang lại cho tôi nhiều ngạc nhiên và thích thú nhất. Tất nhiên tôi không đọc hết các bạn khác, mà có bỏ lỡ vài giọng cũng không sao. Có duyên thì sẽ gặp. Bảo đã in một tập thơ, đã đăng đây đó trên vài tờ báo, tạp chí, nhưng chắc chưa nhiều người đọc thơ Bảo. Tôi cũng không biết còn nhiều người đọc thơ không. Nhưng nếu ai còn đọc thơ, thì nên vào trang On the road trên Facebook để đọc thơ Huy Bảo.

Thơ Bảo luôn giàu hình ảnh và tràn ngập những liên tưởng kỳ lạ, không hiểu Bảo lấy đâu ra những hình ảnh và liên tưởng đó. Có thể nhận ra một vài hình ảnh đến từ văn học, các bức tranh, ví dụ khi Bảo nhắc tới Thợ Mũ ngày mai hắn mơ được làm Thợ Mũ /em đẽo cho hắn một đồng xu mới toanh thì ta có thể nhận ra Thợ Mũ trong Alice ở xứ sở diệu kỳ; hoặc khi Bảo viết Ai cũng có thể rời đi bằng cửa sổ / sau khi đã để lại thư tuyệt mệnh và minh họa bằng bức tranh Leaving by the Window của Bryan Charnley, ta biết bức tranh hẳn đã tạo cảm hứng cho bài thơ của Bảo.

Tuy nhiên, phần lớn hình ảnh trong thơ Bảo tươi mới, nhiều bất ngờ, và không rõ Bảo lấy những hình ảnh đó từ đâu ra. Tuần nào cũng thấy Bảo post một bài thơ mới mà có thể nói là mỗi lần đến chàng nhà thơ của chúng ta cũng mang theo những điều mới lạ. Chất thi sĩ của Bảo thật đáng ghen tị.


Một con trăn
tưởng dây ống bơm nước
là đồng loại
ước gì biết được
chiều nay
ai đã bị cắt lưỡi

thứ ba hái mặt trăng
thứ tư tuyệt thực
nhưng em không tin
cái quan tài bằng gỗ chà là
sẽ gặp tai nạn
trên đường đến thế giới bên kia sao

(Buổi chiều không đến)

Trong bài này, từ chỗ một con trăn/ tưởng dây ống bơm nước/ là đồng loại thì bình thường (mặc dù người bình thường hiếm ai tự dưng nghĩ tới trăn!), nhưng từ đó chuyển sang ba câu thơ kế hoàn toàn bất ngờ. Vì sao đang nói tới con trăn lại sang ước gì biết được/chiều nay/ ai đã bị cắt lưỡi. Bất ngờ, nhưng không khiên cưỡng, tác giả quán xuyến được mạch thơ bằng cái nhịp nội tại của mình; có một mạch ngầm nào đó trong tác giả đã dẫn thơ đi như vậy. Ấy chính là phẩm chất của thi sĩ. Tương tự, ở khổ kế tiếp, thứ ba hái mặt trăng (bất khả nhưng không bất ngờ), thứ tư tuyệt thực (không bất khả, cũng chưa bất ngờ, mặc dù người đọc thắc mắc, vì sao lại tuyệt thực, vì thứ ba hái mặt trăng ăn no nê rồi chăng?), thì chuyện em không tin/ cái quan tài bằng gỗ chà là/ sẽ gặp tai nạn/ trên đường đến thế giới bên kia sao lại hoàn toàn bất ngờ.

Đây là một bài khác của Bảo mà tôi thích. Thật ra tôi thích nhiều bài của Bảo, trừ những bài tỏ ra triết lý hoặc khi Bảo làm thơ có vần - những bài ấy thì dở tệ.

- Dự báo thời tiết -

Dự báo nói hôm nay trời rất đẹp
để ra bãi cỏ
nhắm mắt
một cơn ác mộng
sau buổi chiều ấy anh đã học
mỗi ngày một kiểu gấp áo khoác khác
mỗi ngày một kiểu viết thư tay
mỗi ngày một kiểu châm thuốc lá
đến nhà thờ bằng lối đi bí mật
và thì thầm không gì vào cái giếng
hôm qua họ rào công viên lại
vậy anh còn biết phải đi đâu giữa lộn xộn tháng mười
yêu một bài thơ khác một con đường
một người đàn bà không mang khuôn mặt
một cơn mưa lạ một tên du đãng
một gã tử tù bị hành quyết trong đêm
một bưu kiện trước nhà một lời ca dở tệ
một gánh hát rong một bảng tên đường
dự báo nói hôm nay trời đẹp
để bung dù khi nhảy khỏi ban công
để nói hẹn gặp lại trước sân ga
trong men rượu
giữa ngã tư
hay bắt đầu cuộc bạo loạn dài ngày nơi trí óc
Cha xứ sắp nói một điều ai cũng biết
rằng Chúa sẽ yêu tất thảy các con
hôm qua anh là cái chong chóng ở quảng trường
ngày mai anh là ngọn đèn là bê tông là dây cáp
là khói từ đoàn tàu là dấu chân kẻ trộm
là bọt dưới đáy ly là vết sẹo tình cờ
ngày mai anh nhảy như chưa bao giờ nhảy
rơi khỏi thành phố này như chưa bao giờ rơi
hôm qua họ rào công viên lại
vậy anh còn biết đi đâu giữa lộn xộn tháng mười
khi em đã về đến nhà và thay một đôi giày khác
sau buổi chiều buồn trên bãi cỏ của chúng ta.

Khổ đầu tiên tuyệt đẹp chẳng khác một cú nhảy xan-tô gần hoàn hảo, tức một cú xan-tô sém gãy cổ, nhưng không gãy cổ, một cú nhảy vẫn thành công, nhưng là một cú nhảy chênh vênh giữa điểm 10 và điểm liệt; chính vì thế mà nó đẹp. Tất nhiên, sau những trời đẹp, bãi cỏ, nhắm mắt, thì mơ một cơn ác mộng là một bất ngờ, nhưng bất ngờ hợp lý, bởi mơ bất cứ thứ gì khác đều có thể rơi ngay vào địa hạt của sáo hoặc sến.

Hoặc hai đoạn này:

một người đàn bà không mang khuôn mặt
một cơn mưa lạ một tên du đãng
một gã tử tù bị hành quyết trong đêm
một bưu kiện trước nhà một lời ca dở tệ
một gánh hát rong một bảng tên đường

ngày mai anh là ngọn đèn là bê tông là dây cáp
là khói từ đoàn tàu là dấu chân kẻ trộm
là bọt dưới đáy ly là vết sẹo tình cờ

Hãy chú ý cách Bảo liệt kê các sự vật liền kề nhau nhưng rất ít mối liên hệ với nhau. Vì sao cơn mưa lạ lại cạnh tên du đãng? Vì sao khói từ đoàn tàu kế bên dấu chân kẻ trộm? Và trên hết, vì sao anh lại là những thứ ấy? Bảo không tìm cách hợp lý hóa các câu thơ của mình. Bảo rất nhà thơ ở chỗ không duy lý. Tuy vậy, mọi thứ đặt trong tổng thể vẫn rất mực hài hòa.

Tôi sống thường trực bằng hình ảnh là một câu thơ của Thanh Tâm Tuyền. Khác với nhiều cây bút trẻ khác, gần như không thấy dấu vết của Thanh Tâm Tuyền, Trần Dần hay các nhà thơ tiền bối cây đa cây đề khác trong thơ Bảo. Tuy vậy, rõ ràng Bảo cũng là một người sống thường trực bằng hình ảnh.

Bài viết ngắn này chẳng phải để phân tích hay phê bình thơ Huy Bảo. Rảnh thì tôi viết một chút để nói rằng tôi tìm đã tìm được thêm một nhà thơ yêu thích của mình. Quan trọng là nhà thơ còn rất trẻ và vẫn đều đều viết thơ mới gần như hằng tuần.

chuyện của mùa hè thường là
khi đóng cửa lại và nhìn lên trời
họ mãi mãi tự hỏi
tại sao lũ mèo không sống ở đó
để quên đi anh
em nói thiên đường còn xa hơn như thế nữa
anh nói
sống như một sợi dây giày là quá đỗi gian nan

(Bí mật của mấy tờ lịch)

Nhìn lên trời và thắc mắc vì sao mèo không sống trên đó thì chỉ có thể là nhà thơ hoặc kẻ điên. Hoặc cả hai.


Thứ Tư, 15 tháng 1, 2025

Đi họp phụ huynh

Sáng thứ bảy bị vợ đùn đi họp phụ huynh cho con gái. Vẫn hoàn thành cữ chạy buổi sáng, nhưng thay vì ung dung ăn sáng uống cà phê thì chàng vắt chân lên cổ để đến trường cho kịp giờ. Trường mới của con nội quy khó khăn lắm, con đi học trễ hai phút cũng bị trừ điểm hạnh kiểm, ấy là còn đi xe đưa rước. Sợ đi họp phụ huynh mà trễ bị trừ điểm hạnh kiểm thì nguy. Vì vậy 8 giờ họp 7:59 chàng đã đua tới cổng trường. Vào đến lớp thì tròn 8 giờ, chàng hồ hởi nhủ thầm: giờ có trừ điểm hạnh kiểm tôi bằng mắt! Nhưng hóa ra, cô giáo vẫn chờ các phụ huynh khác, đến 8:15 mới chính thức bắt đầu.

Yên vị rồi, chàng bắt đầu thấy khát. Do 12 km bào cầu Sài Gòn buổi sáng đây. Thường, khi chạy hằng ngày chàng không uống nước, chỉ bù nước sau khi chạy. Sáng nay vội quá, không uống đủ nước rồi. Nhìn quanh, nhìn quất, chẳng có chai nước nào trên bàn. Liếc ra góc phòng, thấy có bình nước chắc dành cho học sinh, nhưng chẳng có cái ly nào cả, chàng đành nuốt nước bọt nhìn cô giáo phổ biến nội quy. Cái này thì chàng biết rồi: không được nghỉ học vào trước hay sau lễ (đã có kinh nghiệm cay đắng khi xin cho con nghỉ học ngày 31/12), không được nhuộm tóc (nhỡ tóc vàng sẵn thì phải báo cáo từ trước), không được xăm (chúng nó xăm vào mông thì kiểm tra kiểu gì), không được mang ba lô (chỉ được mang cặp táp có quai giống ba lô), không được để chai nước trên bàn (con gái báo cáo: con toàn để nước dưới chân bàn, mà công nhận đi rất dễ đá phải)....

Xong phần phổ biến nội quy, cô giáo báo cáo kết quả học tập. Lớp có 31 em, 30 em đạt học sinh giỏi, 1 em loại khá. Chàng lẩm bẩm: chúng mày ăn gì mà giỏi thế, thời của bố mày, trầy vi tróc vẩy mới được trung bình trên tám phẩy nhé, cả khối 12 chỉ mình bố mày được thôi. Đang hồi tưởng quá khứ huy hoàng đồng thời hoài nghi thực chất dạy và học của các cô và các cháu, chàng chợt thấy một vị phụ huynh bàn đầu phát biểu dõng dạc: các cháu học thế là tốt, nhưng sang học kỳ 2 các cháu phải phấn đấu 100% học sinh giỏi. Các phụ huynh khác gật gù tán đồng. Chàng len lét cúi đầu, vẫn nhớ ra mình đang khát.

Xong phần báo cáo của giáo viên chủ nhiệm, sang phần của đại diện hội cha mẹ học sinh. May thay, phần này nhanh, gọn, nhẹ, bởi nội dung chỉ thông báo các khoản tiền cần đóng. Hội nghị nhanh chóng đồng thuận. Ai sao mình vậy, chàng không thắc mắc gì.

Tối hôm trước con gái đã dặn: ba đừng làm cho con bị chú ý đấy nhé. Thế nên, chàng nín thinh suốt buổi, không phát biểu câu nào. Kết thúc buổi họp, ra về, cả hạnh kiểm và đức hạnh của chàng vẫn còn nguyên vẹn.

Ladakh trip 8/2023

Cách đây ba tháng, ông thiền sư bạn tôi rủ rê mọi người đi Ladakh, tôi còn chưa biết nơi này nằm ở đâu trên bản đồ. Thông tin sau đó ông ta cung cấp, đây sẽ là một chuyến trekking và leo núi trên dãy Himalaya, phần thuộc Ấn Độ. Nghe hay hay, tôi bảo bạn cùng nhà, ui, đi chuyến này đã có ông thiền sư tổ chức, mình chỉ cần nhắm mắt đưa chân. Thế là chúng tôi hủy kế hoạch đi Lào, đu theo ông thiền sư.

Công nhận ông thiền sư rất mát tay: tất cả những người ông rủ rê ban đầu đều tham gia, rồi người này rủ thêm người kia, rốt cuộc chốt đoàn đến tận 16 thành viên. Tất cả đều từng có kinh nghiệm du lịch bụi, trekking hoặc leo núi, chịu ngủ bờ, ngủ bụi, ở dơ và hành xác. Nếu không có những điểm chung đó, khó để 16 con người hầu hết chỉ biết nhau chút chút trước đó, hình thành một đoàn “chịu đựng” nhau trong 10 ngày. 

Ba tháng chuẩn bị trôi qua rất nhanh, hầu như không ngày nào không có tin nhắn của nhóm chia sẻ kinh nghiệm chuẩn bị thể lực, mua sắm đồ đạc (khá nhiều, bởi lẽ điểm đến khá lạnh, nếu lên đỉnh núi có thể âm 15 độ), xin visa, mua bảo hiểm, thuốc men v.v. Duy nhất một thứ biết trước mà không chuẩn bị được, trừ việc mua thuốc, đó là đương đầu với AMS.

AMS là viết tắt của acute mountain sickness, nôm na là say độ cao. Biểu hiện của chứng này đa dạng, từ nhức đầu, chóng mặt, nôn mửa, tiêu chảy, mệt mỏi, đến trường hợp nặng có thể gây xuất huyết não. AMS có thể xuất hiện ở độ cao trên 2500 mét, phổ biến hơn ở độ cao trên 3500 mét, 20% dân số thế giới có thể mắc chứng này. AMS phổ biến ở nam hơn nữ. Điều kỳ quái của AMS là không thể rèn luyện thể lực để đối phó với AMS, vận động viên chuyên nghiệp vẫn có thể bị AMS, trong khi “bánh bèo” có thể lại miễn nhiễm với chứng này. Nói kỹ về AMS, vì rồi tôi sẽ là nạn nhân của nó, và vì vậy không thể summit (lên đỉnh).

Ngày khởi hành đến, sau năm tiếng bay từ Sài Gòn đến Delhi, chúng tôi vạ vật sân bay Delhi tầm sáu tiếng trước khi nối chuyến đến Leh. Thời gian bay tới Leh chỉ hơn một tiếng, nhưng chúng tôi phải ngồi trên máy bay mất gần một tiếng nữa vì sân bay Leh rất nhỏ, phải đợi có chiếc cất cánh máy bay chúng tôi mới vào được sân đỗ.

Có lẽ tôi và các bạn đồng hành chưa bao giờ chăm chú theo dõi độ cao từng điểm đến như trong chuyến đi này. Khi cơ trưởng thông báo máy bay chuẩn bị hạ cánh, tôi thấy một điều thú vị là độ cao đo được theo đồng hồ Garrmin của mình từ 2900 mét tăng dần lên 3500 mét khi đáp. 3500 mét chính là độ cao của Leh, thành phố thủ phủ Ladakh. Từ Leh, chúng tôi sẽ lên điểm cắm trại đầu tiên gần hồ Tso Moriri, làng Karzok, độ cao 4.500 mét. Sau đó, sẽ trek lên điểm hạ trại thứ hai ở chân núi Mentok Kangri, độ cao 5.200 mét. Cuối cùng, đỉnh Mentok Kangri, đích đến cuối cùng của đoàn, có độ cao 6.250 mét. Đoàn sẽ có bảy ngày làm quen độ cao trước khi chinh phục đỉnh Mentok Kangri, tuy nhiên, rồi sẽ chỉ 5/16 thành viên trong đoàn chinh phục thành công đỉnh núi này.

Ngay buổi chiều đầu tiên đến Leh, sau bữa trưa no đẫy tại một nhà hàng Tibet mà tôi đã rất tự tin gọi một món đặc Ấn, chicken masala ăn cùng bánh naan, thì tôi thấy trong người lạ dần. Sau khi ghé thăm một tu viện nhỏ, quay về khách sạn, ngang căn bếp nồng mùi cà ri, thì tôi không kìm được nữa, lao vội vào phòng tắm nôn thốc nôn tháo. Cả đêm đầu tiên đó, tôi cho chó ăn chè tới sáu bảy bận, mặc dù những lần sau không còn chè nữa, chỉ nước suông, nhưng vẫn cho ra. Tới sáng hôm sau, tuy vẫn e ngại tác dụng phụ của thuốc chống AMS, tôi đành phải nuốt luôn hai viên. Cảm thấy khá hơn chút, nhưng trong lúc cả đoàn đi trekking nhẹ và chơi dù lượn, thì tôi nằm bẹp. Tôi nghĩ thầm trong bụng, kiểu này chắc phải ở lại Leh tĩnh dưỡng suốt 5 ngày tới, trong lúc chờ đoàn leo núi rồi quay về. May thay, sáng ngày thứ ba, nhờ thuốc mà tôi khá hơn nhiều, cùng đoàn tiếp tục hành trình.

Đường từ Leh đến làng Karzok, điểm hạ trại đầu tiên, khoảng 220km. Hai phần ba đầu, đường tuy hẹp, mỗi bên chỉ một làn xe, nhưng mặt đường còn được trải nhựa tương đối tốt. Càng đi, càng vắng bóng dân cư, vắng bóng cả cây, chỉ lác đác doanh trại quân đội dọc theo những triền núi đá. Con đường ngoằn nghèo chạy trên dãy Hy Mã Lạp Sơn, một bên là núi đá với kết cấu không bền vững, nguy cơ sạt lở bất cứ lúc nào, một bên là dòng suối hối hả, chảy xiết. Con đường thách thức thần kinh tài xế và du khách này là một phiên bản hard core gấp đôi, gấp ba chặng đường Mèo Vạc - Hà Giang qua đèo Mã Pí Lèng huyền thoại. Trên đường, có nhiều bảng tuyên truyền giao thông khá duyên dáng, tôi chép lại cho quan chức đường bộ nước ta tham khảo:

Speed thrills but kills (Tốc độ thì hấp dẫn, nhưng chết cũng nhanh lắm)

Fast drive could be last mile (Lái nhanh cho cố, tới số)

Donate blood but not on road (Hiến máu đáng tuyên dương, nhưng đừng hiến trên đường)

Feel the curves, don’t hug them ( Cảm nhận đường cong, chớ có ôm chầm)

Drive don’t fly (Chạy, đừng bay)

On the bend go slow friend ( Vô cua chậm nha bồ)

Drive on horsepower not on rum power (Lái xe nhờ mã lực, chớ không phải tửu lực)

If you sleep your family will weep (Nếu bạn buồn ngủ gia đình bạn lãnh đủ)

Road is hilly don’t drive silly ( Đường đèo dốc đừng lái như thằng ngốc)

You booze you cruise you lose (Nhậu rồi phóng là chán sống)

Accident brings tears safety brings cheers (An toàn cả nhà vui, tai nan lệ tuôn rơi)

Over speed is a knife that cuts life (Lái quá tốc độ là dao cắt cổ)

Fast won’t last (Nhanh thì không bền)

Better late than never (Thà muộn còn hơn không bao giờ)

Alert today alive tomorrow (Hôm nay cẩn trọng để ngày mai còn sống)

Một phần ba sau, đường không còn là đường, nhiều lúc có cảm giác tài xế chỉ nhắm hướng mà chạy. Hình như lâu rồi tài xế mới chạy lại con đường này, nên anh đã lạc đường đến ba, bốn lần. Mỗi lần anh phát hiện ra mình lạc đường, de xe, quay đầu, nhất là khi trời đã tối, là tim tôi lại nhộn nhạo. Mặt đường lồi lõm như bề mặt mặt trăng, lỡ sa xuống hố thì không biết qua đêm ở đâu, nhất là khi càng lúc trời càng lạnh.

Hơn 8 giờ tối, chúng tôi cũng tới được bãi trại. Lều đã được dựng rồi, nhưng mệt nhoài và lạnh, nên dẫu đói, chúng tôi cũng chỉ nuốt qua loa bữa tối muộn rồi lăn ra ngủ trong tiếng gió ầm ào. Trong giấc ngủ chập chờn, tôi nghe thấy tiếng lục lạc lanh canh khi xa khi gần, đôi lúc lại nghe như có tiếng chuông chùa ngân rung trong sương đêm.

Sáng hôm sau, nắng lên từ rất sớm, chui ra khỏi lều, chúng tôi mới bắt đầu chiêm ngưỡng phong cảnh chung quanh. A ha, chúng tôi đang trên dãy Himalaya, những túp lều vàng của nhóm chúng tôi nằm rải rác trên một bãi cỏ xanh, bên dòng suối thì thào tuôn chảy. Dọc theo suối, lác đác những cụm hoa vàng li ti. Bên kia suối, vài chú ngựa nhởn nhơ gặm cỏ - tác giả những tiếng lục lạc trong đêm đây rồi. Vây quanh chúng tôi là núi đá. Thì ra, đây là một thung lũng, hèn nào đêm gió lùa rất ghê. Ngày hôm đó, vẫn uống thuốc chống AMS, phục hồi phần nào công lực, tôi bám theo đoàn trek nhẹ nhàng về hồ Tso Moriri, hồ nước mặn trên cao lớn nhất Ấn Độ. Trong vài ngày sau đó, chúng tôi còn có nhiều dịp ngắm hồ từ các độ cao khác nhau.

Ngày kế tiếp, chúng tôi nhổ trại và bắt đầu leo lên base camp nằm ở độ cao 5.200 mét. Quãng đường từ trại thứ nhất tới trại thứ hai chỉ hơn 7 cây số và độ dốc tăng thêm 700 mét, nhưng ngốn mất của tôi tám tiếng đồng hồ. Các bạn đi khỏe hơn trong đoàn mất sáu tiếng, nhưng cũng có vài bạn khác mất tới 11 tiếng. Riêng trong buổi chiều, đồng hồ tôi đo được quãng đường di chuyển là 2.5km, độ dốc 330 mét, thế mà tôi đi mất 4 tiếng 50 phút. Thường, khi chạy ở núi Dinh chẳng hạn, thì với quãng đường và độ dốc tương đương, tôi chạy khoảng 25-30 phút. Gần như trên chặng trek này, cứ bước chừng chục bước là tôi đứng thở một, hai phút. Lên tới base camp, tôi không còn chút sức lực nào. Bạn cùng nhà, đã lên tới base camp trước tôi hai tiếng, hỏi tôi mấy câu, mất nửa tiếng sau tôi mới đủ hơi để trả lời. Tôi biết mình nên dừng chân ở đây. Cơ thể tôi tuy có nhồi thuốc nhưng vẫn không thích nghi kịp với độ cao. Ở độ cao trên 5.200 mét này, sức lực tôi chỉ còn tầm 1/10 bình thường, chỉ cần loay hoay đóng cửa lều, hay ngồi xuống đứng lên (vâng, là nói tới khâu đó) đã thở hồng hộc, đi từ lều mình tới lều ăn phải dừng lại thở hai, ba lần, nên chuyện chinh phục đỉnh Mentok Kangri 6.250 mét là chuyện quá xa vời. Vả chăng, nhìn lại, tôi thấy mình đã không chuẩn bị nghiêm túc cho việc leo núi, thật ra thì tôi chẳng biết gì về leo núi cả, trong đầu tôi chỉ nghĩ đây là một chuyến trekking.

10/16 thành viên trong đoàn rồi sẽ băng vào màn đêm giá buốt với nỗ lực summit. Một nửa trong số đó phải quay về sau 1/3 hay 1/2 quãng đường vì những lý do khác nhau. Chỉ 5 thành viên summit thành công. Đó là một nỗ lực phi thường.

Buổi sáng ngày summit, khi các bạn mình đang loay hoay đâu đó trên đường chinh phục Mentok Kangri, tôi dậy sớm, lấy một tách trà nóng ôm trong tay rồi ngồi trên một tảng đá thừ người ngắm hồ Tso Moriri. Hôm ấy trời nhiều mây hơn mấy hôm trước, mãi mà mặt trời chỉ có thể yếu ớt rọi vài tia sáng qua những áng mây dày. Bên kia hồ, những dãy núi đá, trên đỉnh phủ tuyết trắng xóa, có độ lồi lõm khác nhau, tạo thành những mảng khối màu đậm nhạt đan xen, trông như những nhát cọ của một họa sĩ thiên tài. Phía trái dãy núi lại chạy đổ dài xuống mép hồ, mở ra một khoảng rộng trông từ xa không khác gì một bãi biển. Mặt hồ Tso Moriri tuyệt đối tĩnh lặng. Từ độ cao này, nhìn mặt hồ không chút gợn sóng, rõ ràng là một tấm gương khổng lồ in hình rặng núi tuyết phía sau. Vẻ huy hoàng tráng lệ của dãy núi, sự tĩnh lặng tuyệt đối của gương hồ, cái đẹp của thiên nhiên vĩ đại làm choáng ngợp tôi, chiếm hữu tôi, làm tôi như nghẹt thở. Bất giác, tôi thấy mình ứa nước mắt.

Chuyến đi rồi sẽ kết thúc. Chúng tôi rồi sẽ trở về với thế giới có nước nóng để tắm, có toa lét đàng hoàng, có kết nối Internet. Qua chuyến đi này, dù có lên đỉnh thành công hay không, tôi tin mỗi người trong chúng tôi sẽ tìm thấy những ý nghĩa khác nhau. Với tôi, những giờ phút ngắm hồ, ngắm núi, hít thở không khí tuyệt đối trong trẻo trên dãy Himalaya đã là một trong những giờ phút lãng mạn nhất của đời mình.

(Vài dòng gõ trên điện thoại trong lúc vật vờ tại sân bay Delhi.)

Bài tập cho trí nhớ

Bây giờ là 5 giờ sáng một ngày chủ nhật. Lẽ ra tôi còn phải đang khò khò, nhất là đêm hôm trước còn hơi quá chén, nhưng tôi lại đang bật laptop và gõ những dòng này. Thời gian thật nghiệt ngã. Ở tuổi hai mươi, người ta có thể ngủ tới chín, mười giờ sáng và vẫn thấy thèm ngủ. Ở tuổi hai mươi người ta có thể thức xuyên đêm đọc một cuốn sách và mười năm sau vẫn nhớ rành mạch từng chi tiết trong cuốn sách đó. Ở tuổi khi đã có con sắp bước vào tuổi hai mươi, người ta, tức tôi, không còn thèm ngủ nhiều như xưa, và mau chóng quên đi những gì mình đã đọc. Chính vì vậy, một yêu cầu nho nhỏ của nhà Z, hãy kể lại một năm đọc sách của mình, đâm ra thành một thách thức. Tôi chấp nhận thách thức đó, bằng cách cố nhớ lại những cuốn sách nào đã gây ấn tượng cho mình trong năm qua, mà không giở lại bất kỳ trang sách nào.

Hãy bắt đầu bằng một bộ phim, phim truyền hình thì đúng hơn (ngoài lề 1: tôi vẫn kinh ngạc khi thấy cho tới bây giờ một số bậc thức giả vẫn không phân biệt được phim truyền hình và phim điện ảnh, và vẫn nồng nhiệt khen chê lẫn lộn trên mặt báo) (ngoài lề 2: series, thời tiếng Anh chưa phổ biến như thời nay, vẫn được gọi là phim truyền hình nhiều tập, giờ đây, ngang nhiên được gọi là “loạt phim”, một Netflix series được gọi là “loạt phim Netflix”, thật quái gở), Six Feet Under. Mỗi tập phim này bắt đầu bằng một cái chết. Một tập phim khởi đầu với cảnh bà vợ đang chuẩn bị ăn sáng cho chồng, chiên trứng, rót nước cam, bày đĩa trước mặt chồng, trong khi đó, ông chồng thao thao bất tuyệt về một chuyện gì đó. Khi xem, tôi đang băn khoăn, ông này nói cái gì chán thế, thì trên ti vi, bà vợ không nói không rằng, lấy cái chảo vừa mới chiên trứng xong, quật một phát thật lực vào đầu ông chồng, và đó là cảnh mở đầu tập phim này. Ý nghĩ đến ngay trong đầu tôi ngay lúc đó là, ồ, cảnh này thật là tiểu thuyết. Tôi hoàn toàn không có ý nói cảnh đó giả tưởng, không tin được, mà ngược lại, nó rất đáng tin, và đó là một phẩm chất của tiểu thuyết.

Tiểu thuyết, theo tôi, là loại hình nghệ thuật nói được những sự thật không thể nói ra, diễn tả được những khía cạnh bất định của hiện hữu, nhìn thấy được sự đa dạng của cuộc sống mà ở đó cách suy nghĩ, hành xử của mỗi con người được lèo lái bởi những động cơ bên trong không dễ gì nhìn thấu. Những tiểu thuyết đích thực giúp người đọc hiểu hơn một chút về con người, nhưng đồng thời nếu đọc xong một tiểu thuyết mà ta thấy hoang mang hơn về con người thì ấy có thể là dấu hiệu của tiểu thuyết đích thực. Chính vì lẽ đó, mối quan tâm lớn của tôi trong sự đọc là tiểu thuyết. Tôi vẫn đọc khảo cứu, tiểu luận, non-fiction nói chung, nhưng tiểu thuyết mới là thứ mà tôi dành thời gian cho nhiều nhất, trong quỹ thời gian ít ỏi còn lại của tôi sau chục tiếng văn phòng hằng ngày, sau những buổi chạy bộ, leo núi, và trong sự chống chọi mạng xã hội cùng những “loạt phim Netflix”.

Tôi nhớ mình dự định năm nay sẽ dành thời gian đọc lại là chủ yếu, nhưng như nhiều dự định khác, đây là một trong những dự định bất thành. Dù sao đi nữa, tôi nhớ đã bắt đầu năm đọc sách của mình bằng Người xa lạ của Camus. Đây là lần thứ ba hay thứ tư tôi đọc cuốn sách mỏng dính này qua các bản dịch khác nhau và lần nào tôi vẫn còn nguyên vẹn cảm giác lãnh một cú đấm vào mặt. Tôi không nghĩ anh chàng nhân vật chính trong cuốn tiểu thuyết này vô cảm. Anh ta không xử sự theo cách mà đa số mọi người mong đợi, không tỏ vẻ buồn đau, khóc than khi mẹ mất, không hẳn là anh ta không có cảm xúc. Đó là chỉ là một cách ứng xử khác trong vô số cách ứng xử có thể có, nhưng người ta thường nghĩ rằng trong một tình huống A thì cách ứng xử nhất định phải là B, hễ thế này thì nhất định thế kia, nhưng ở đây nhân vật lại ứng xử theo kiểu Z. Tôi cũng không thấy có gì phi lý trong cách nhân vật chính vô cớ giết người. Rất có thể cái chết của mẹ anh ta tác động tới anh ta nhiều hơn anh ta tưởng, và mặt trời chói chang, cái nóng hay con dao của gã Ả rập chỉ là điểm kích hoạt cho hành động có vẻ như bột phát của anh. Dĩ nhiên, đây chỉ là một giả thuyết. Việc Camus chưa bao giờ giải thích động cơ cho hành vi này khiến cho cuốn tiểu thuyết mãi mãi mang một vẻ bí ẩn.

Khi đọc Một chủ nhật khác của Thanh Tâm Tuyền, tôi thấy có hơi hướm của Người xa lạ, mặc dù tôi có nghe nói rằng Thanh Tâm Tuyền khoái Malraux chứ không phải phải Camus. Trong Một chủ nhật khác, có chuyện Trung úy Kiệt, trong một lần được xả trại đã leo lên một chiếc xe đò đi thẳng xuống một tỉnh miền Tây thuê phòng trọ nằm ngủ một mình một đêm thay vì về nhà với vợ. Về sau, vợ Kiệt phát hiện ra chuyện này, Kiệt buộc phải bịa chuyện là mình ngoại tình thì được vợ tin và tha thứ, chứ còn chuyện thuê phòng trọ nằm một mình bởi không muốn gặp gỡ ai, không muốn trò chuyện với ai thì không bà vợ nào tin được. Cũng giống như trong Người xa lạ, nhân vật chính được trông đợi là phải buồn đau khi mẹ mất, ở đây, Kiệt được [vợ] trông đợi là phải ngoại tình. Họ được trông đợi ứng xử theo những mẫu hình khuôn khổ, có thể đoán định được. Nhưng tiểu thuyết là phải bắt được những cách ứng xử không theo khuôn, bởi con người là một động vật cực kỳ phức tạp, đâu có thể dễ dàng quy giản? Một chủ nhật khác cũng là cuốn sách tôi đọc hai lần gần như liên tục.

***

Những chuyến bay thường là thời gian đọc sách lý tưởng nhất, bởi khi đó ta không bị quấy rầy bởi email, tin nhắn và nhất là Facebook. Khi bay, tôi thường mang theo Kindle. Đó cũng là một lựa chọn lý tưởng, vì Kindle gọn, nhẹ, chứa được nhiều sách nên đỡ phải băn khoăn mang cuốn gì theo trước khi bay. Cũng nhờ Kindle tôi có thể mua sách từ nước ngoài chỉ mất vài giây. Với những cuốn sách không được phát hành rộng rãi hoặc đã tuyệt bản, thì Kindle quả là cứu tinh. Tôi đã đọc Night Prayers của Santiago Gamboa, một nhà văn Colombia, tập truyện ngắn Sáng tác mới 2023 do ZZZ review tuyển chọn và Mùa biển động của Nguyễn Mộng Giác bằng Kindle và hầu như trên những chuyến bay.

Tôi còn chưa nghe tên Santiago Gamboa khi đọc Return to the Dark Valley của ông hồi năm ngoái. Vì một lý do nào đó, Amazon “recommend” ông cho tôi. Cái nhan đề cuốn hút, cộng thêm mác nhà văn Colombia với phong cách gần giống Roberto Bolaño khiến tôi nhắp chuột ngay tắp lự, để rồi sau đó nhắp chuột lần nữa, tải Night Prayers về Kindle. Dường như tình dục, chính trị và bạo lực là đặc sản của các nhà văn Mỹ La tinh. Tất cả món này có trong Night Prayers, câu chuyện về một cậu sinh viên triết học vướng vào vận chuyển ma túy nên phải ngồi tù ở Bangkok và người chị tìm mọi cách để cứu cậu ra. Nhưng cũng như trong các tiểu thuyết của Bolaño, Night Prayers có rất nhiều digression – ngoại đề hay chuyện ngoài lề. Một trong những đoạn ngoài lề bàn về bạo lực ở Colombia mà tôi thích thú đó là khi một nhân vật nói đại ý rằng hòa bình mà ta thấy ở châu Âu ngày hôm nay (sách viết trước khi chiến tranh Nga – Ukraina nổ ra) chỉ có được sau hai nghìn năm giết chóc, và các quốc gia châu Âu khi cùng tuổi với Colombia ở thời điểm hiện tại tàn sát lẫn nhau, máu chảy thành sông, nội chỉ việc Hồng quân chiếm Berlin vài tuần đã khiến nhiều người chết hơn cả một thế kỷ xung đột ở Colombia, bạo lực là một phần của lịch sử và Colombia sẽ tiến tới hòa bình nhanh hơn, và ít đổ máu hơn châu Âu. Cũng nhân vật đó cho rằng châu Âu không có tương lai. “Đó là một châu lục mệt mỏi, xấu tính cố gắng dạy dỗ người khác phải sống thế nào, nhưng lại trở nên đông cứng do tự ngắm mình quá nhiều trong gương.” Night Prayers có phải là cuốn xuất sắc hay không? Tôi nghĩ là không. Nhiều chỗ nó ly kỳ một cách không cần thiết, hơi giống các phim truyền hình Tây Ban Nha hay Mexico với các nhân vật hay hoa tay múa chân và nói sùi bọt mép, nhưng được cái nhịp độ nhanh nên không buồn ngủ.

Các truyện ngắn trong số Sáng tác mới 2023 do ZZZ Review tuyển chọn mang tới cho tôi nhiều bất ngờ. Nếu tại thời điểm này hỏi lại truyện nào của ai viết gì thì tôi chịu, nhưng ấn tượng chung khi đọc là các truyện đều mới mẻ. Cái cách các tác giả dựng truyện, chủ đề họ theo đuổi, ngôn ngữ họ sử dụng ít thấy dấu vết  của các tác giả Việt Nam thế hệ trước. Đọc họ, thấy ảnh hưởng của các nhà văn nước ngoài nhiều hơn, và có vẻ như họ còn đọc trực tiếp nguyên tác không qua bản dịch. Điều này cũng thể hiện phần nào trong cách họ hành văn. Người khó tính sẽ cho đó là văn thiếu chỉn chu. Người không khó tính lắm có thể cho rằng mỗi thế hệ có cách diễn đạt riêng của họ, và nhóm các tác giả này đã tìm được cách diễn đạt phù hợp với thời họ đang sống.

Một thành tựu trong năm của tôi là đã đọc xong bộ trường thiên tiểu thuyết năm tập Mùa biển động của Nguyễn Mộng Giác bằng Kindle. Vâng, với sự cạnh tranh khốc liệt của các “loạt phim Netflix” thì cày vài “loạt phim” không phải chuyện gì to tát, nhưng đọc xong mấy nghìn trang của một cuốn sách nhất định phải tự coi đó là thành tựu. Do cách dàn trang, format không chuẩn của các file Kindle mà tôi đã đọc tập 3, tập về Mậu Thân, cũng là tập hay nhất, trước tiên rồi mới quay lại đọc tập 1, tập 2. Giả như tôi đọc thì tập 1 thì chưa chắc tôi đã hoàn thành. Có lẽ vì định bụng viết trường thiên tiểu thuyết nên tác giả dàn cảnh hơi lâu, điều này hoàn toàn hiểu được, khoảng hai, ba chương đầu của tập 1 chưa hứa hẹn gì. Tôi nghĩ viết tiểu thuyết dài cũng giống như chạy marathon, nếu khởi đầu hăng quá thì mau đuối sức. Nguyễn Mộng Giác rõ là người chạy marathon tốt.

Câu chuyện của Mùa biển động xoay quanh một nhóm bạn và các thành viên gia đình của họ, bắt đầu tại Huế khoảng năm 65-66, rồi theo chân các nhân vật đến Quy Nhơn, Buôn Mê Thuột rồi Sài Gòn vắt qua mốc 75 kèo dài đến khoảng năm 80. Một không gian rộng lớn và một quãng thời gian khá dài như thế nên Mùa biển động đương nhiên có nhiều câu chuyện, nhiều sự kiện, chủ đề: phong trào đấu tranh của sinh viên Huế, sự kiện Mậu Thân, chuyện văn giới miền Nam, quân Việt Nam Cộng Hòa thất thủ ở cao nguyên và Huế, trại cải tạo, vượt biên.v.v. Tôi đặc biệt quan tâm những chương viết về tranh luận, đối đầu giữa ba người bạn thân Ngữ, Tường, Ngô. Qua họ, ta có thể hình dung ra các trí thức trẻ miền Nam trước đây đã suy nghĩ, băn khoăn, lựa chọn hướng đi ra sao. Rõ ràng họ có quyền lựa chọn hướng đi, trong mối tương quan với các trí thức trẻ miền Bắc cùng thời kỳ; rõ ràng không ai chọn hướng đi giùm họ, nhưng sự tự do lựa chọn không bảo đảm gì họ có một lựa chọn đúng đắn. Dẫu gì thì họ đã được sống và trả giá bằng lựa chọn của  chính mình, nên đấy cũng là một niềm an ủi.

Mùa biển động có những trang viết về tình yêu thật đẹp, tôi nghĩ thuộc loại đẹp nhất trong văn chương Việt Nam. Mùa biển động cũng có những đại cảnh được viết lại dựa trên các hồi ký (của Hoàng Khởi Phong và Cao Xuân Huy) nên rất sống động. Tuy không nên so sánh giữa tiểu thuyết và hồi ký, nhưng phần viết lại Tháng ba gãy súng của Cao Xuân Huy trong tập 4 của Miền biển động tôi thấy hay hơn sách của họ Cao. Mùa biển động, chắc chắn là một trong những tiểu thuyết xuất sắc nhất của văn học Việt Nam, cùng với Sông Côn mùa lũ.

***

Quãng thời gian cuối năm, tôi muốn dành thời gian cho cổ điển. Đó là lý do tôi quyết định bắt đầu đọc Giáo dục tình cảm của Flaubert qua bản dịch Lê Hồng Sâm. Tôi rất thẹn thùng tiết lộ rằng tôi đã định đọc cuốn này từ 10 năm trước, thế nhưng, dẫu biết rằng lao đầu vào các tác phẩm cổ điển sẽ được tưởng thưởng xứng đáng, thực tế tác phẩm cổ điển đồng thời  cũng tạo ra một nỗi ngán ngại. Ta có đủ thời gian cho nó không? Ta có kiên nhẫn lật dở từng trang của cuốn sách dày cộp không khi còn bao sách chất đống quanh nhà?  Thời gian trôi rất vội, bữa ăn trưa chỉ có năm phút, mà tác giả thì tỉ mỉ, kể lể chi tiết từng hoa văn trên váy áo, từng món xốt trên bàn tiệc, từng vết cào trên da. Trong khi đó, như bao người khác, tôi còn dễ bị dẫn dụ bởi bao nhiêu sách vở, phim ảnh bình thường, tầm thường, ngớ ngẩn hoặc chỉ để giải trí. Bước vào một tác phẩm cổ điển, tuy không đến nỗi phải tắm rửa dọn mình, nhưng ít ra cần toàn tâm, toàn ý, dành thời gian cho nó. Thực tế, tôi mất khoảng 4 tuần mới đọc xong Giáo dục tình cảm.

Giáo dục tình cảm quả nhiên là đỉnh cao của nghệ thuật tiểu thuyết. Hầu hết các tiểu thuyết gia lớn đều giữ khoảng cách với nhân vật của mình, nhưng tôi nghĩ, với Flaubert, ông đã đạt tới sự khách quan tuyệt đối với các nhân vật tiểu thuyết. Tôi nhận thấy ông không bao giờ tỏ ra yêu, ghét, giận dữ, thương mến, hay bất kỳ tình cảm nào với các nhân vật của mình, dù họ đáng yêu hay đáng khinh đến mức nào.

Ông tả cái sự mê gái hay thôi rồi. Khi say một người con gái, say làn da lộng lẫy, vóc dáng quyến rũ, hay những ngón tay thanh tú đã đành. Nhưng cái sự say mà ông miêu tả, nó đi sâu và xa làm sao. Say là say cả đồ vật người ta sở hữu, là tò mò, muốn biết tất tần tật về cuộc đời người ta: “Anh nhìn giỏ đồ khâu của nàng với niềm kinh ngạc, như một vật phi thường. Nàng tên gì, ở đâu, cuộc đời nàng, quá khứ của nàng ra sao? Anh ước mong biết được đồ đạc trong phòng nàng, mọi áo váy nàng đã mặc, những người nàng giao du; và ham muốn chiếm hữu thể chất thậm chí cũng tan biến dưới một khao khát sâu xa hơn, trong một nỗi tò mò đau đớn vô biên.” Đúng là đỉnh về say mê.

Tôi tìm hiểu một chút thì biết được Flaubert đã mất năm năm nghiên cứu để đảm bảo các chi tiết lịch sử trong sách chân thực tối đa. Chẳng hạn như trong sách có viết cuộc bạo loạn đã đốt năm đống lửa trong cung điện, thì trong thực tế lịch sử đã có năm đống lửa, chứ không phải bốn, hay sáu được đốt. Đây là một gợi ý cho các nhà văn khi viết về lịch sử, có hư cấu thế nào thì cũng phải đảm bảo các chi tiết lịch sử chính xác.

Giáo dục tình cảm là một tiểu thuyết lớn, nên tôi nghĩ tôi cần đọc lại nó sau ba hay năm năm nữa. Đọc, là để đọc, để quảng cáo cho bạn bè đọc, chứ viết gì về nó tôi cũng thấy nông cạn.

***

Những cuốn trên đây cơ hồ là những cuốn tôi nhớ nhất trong năm nay. Cũng có những cuốn khác, khi đọc, tôi thấy hay, thậm chí rất thích, nhưng đến giờ hỏi tôi cuốn sách ấy viết về cái gì thì chịu. Trí nhớ tôi quả thật rất suy tàn. Tuy vậy, nhờ Goodreads nhắc, tôi biết tôi đã đọc và thích những cuốn sau: Một chỗ trong đời của Annie Ernaux, Người cô độc của Christopher Isherwood, Tiếng núi của Kawabata (rất hay), Sậy của Thuận (tôi thích cuốn này nhất trong những cuốn gần đây của Thuận) và Hành trình yêu của Alain de Botton.

Cũng xin thú nhận, nếu nói bài viết này là bài tập cho trí nhớ, thì bài tập này đã thất bại. Tôi đã không nhớ tên nhân vật chính trong Người xa lạ nên phải đi tra. Cũng như để có những đoạn trích trong Night Prayers hay Giáo dục tình cảm tôi buộc phải lần lại những trang đã đánh dấu.

Để kết thúc bài một năm đọc sách, tôi muốn trích một đoạn thơ trong một cuốn sách ra đời lặng lẽ tháng cuối năm, lặng lẽ như chính tác giả của nó, cuốn Thơ Phan Đan.

“Những cành cây/hai lần chết chém

Những đám mây/hai lần bị bắn

Và nụ cười tôi/hai lần bị treo cổ/cái màu đỏ điên rồ/khi tôi đón em.”

Tập thơ này có 160 bài, hơn 400 trang. Hầu hết các bài đều viết đã lâu, như rượu được ủ nhiều năm. Mỗi ngày, tôi nhấm nháp một ít, tự thưởng cho mình (vì đã vâng lời chị Z).

  

Tản mạn những ngày AODOYOD

Suốt những ngày ai ở đâu ở yên đó, trời Sài Gòn trong veo. Chỉ số ô nhiễm trên Air Visual thường xuyên xanh ngắt. Trên app, Sài Gòn xanh như Sydney, như Montreal, như London. Chiều chiều, sau giờ làm việc, tôi hay ra ngồi ban công. Nhìn sang các căn hộ khác, cũng có nhiều người ngồi ở ban công, những ban công vốn thường chỉ là nơi phơi quần áo.

Có tiếng đàn piano chập chững từ căn hộ nào đó vọng sang. Trước kia, hiếm khi nghe âm thanh từ hàng xóm. Một phần, có lẽ khu căn hộ này cách âm tương đối tốt, phần khác, khi bận rộn với những âm thanh của riêng mình, ta ít khi nghe được những âm thanh khác từ bên ngoài.

Đêm, côn trùng dường kêu to hơn. Hay có lẽ chúng cũng kêu to như bình thường - chúng chưa từng chịu đựng cảnh bị giam trong bốn bức tường - chỉ có đôi tai ta là nhạy cảm hơn. Có một lần, tôi choàng dậy vào nửa đêm vì tiếng côn trùng inh ỏi, vớ tay lấy điện thoại để ghi âm dàn hợp xướng côn trùng. Sáng dậy xem lại máy, thấy không có bản ghi âm nào cả. Hay ai đó đã thức dậy trong đêm, không phải tôi? Lẽ nào lũ côn trùng không có thật.

Cách đây hai hôm, sáng mới ngủ dậy, vận hết lòng dũng cảm, tôi đi bộ hơn hai trăm mét ra đầu ngõ. Lần đầu tiên sau hơn hai tháng tôi đi xa nhà tới thế. Nhìn tới lui không thấy bóng đồng phục nào, chỉ vài xe tải con chở hàng lao vun vút, tôi dấn thêm một chút, băng hẳn qua bên kia đường, tiến sát tới mé sông. Con sông còn đó, vẫn bồng bềnh chảy, vài cánh chim chao liệng trên mặt nước. Tôi hít một hơi dài không khí mát mẻ buổi sớm mai, rồi lại một hơi dài, một hơi dài nữa. Yên chí dòng sông vẫn còn đó, chưa bị mang đi cách ly tập trung, tôi khấp khởi trở về nhà.

Bạn nhắn tin, nói vừa được đặc cách đi một vòng thành phố. Những bậc thềm trước bưu điện trung tâm nơi khách du lịch thường chen chân check-in, học sinh cuối cấp hay tụ tập chụp ảnh lưu niệm, giờ phủ đầy rêu xanh, các khe đá cỏ mọc lún phún. Giãn cách thêm ít bữa, biết đâu cây mọc thành rừng, thú dữ về trú ngụ, bạn đùa. 

Vài hôm nữa, gặp nhau, ta sẽ nói gì?  Không biết giọng có cất lên thành tiếng, hay lời chưa ra khỏi miệng lại bị nuốt vào trong, như một nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư? 

Thứ Tư, 28 tháng 6, 2017

BẠN BÈ CŨNG LÀ MỘT TÀI SẢN






BẠN BÈ CŨNG LÀ MỘT TÀI SẢN

Tôi có người bạn viết ba cuốn sách vài trăm nghìn chữ mất 7 năm, lấy tựa chung “Bất hạnh là một tài sản”.

Tôi viết bộ ba đoản thiên lan man tùy bút về ba người bạn Đức tổng cộng bảy nghìn chữ trải dài trong quãng mười lăm năm, vừa bằng thời gian nàng Kiều lưu lạc. Nhân đang lưu lạc ở Đức, tuy không như Kiều, tôi tái bản hai phần đầu và viết nốt phần thứ ba, cho thành một trilogy không phải threesome, lấy tên chung “Bạn bè cũng là một tài sản”.

Phần 1.  Joerg – The Jogger (Biên ở Úc, 2003)

Đã bao lâu rồi tôi chưa quay lại bờ hồ? Tôi không nhớ rõ. Tháng ngày trôi nhanh quá. Cái chiều mà tôi lang thang ra bờ hồ và bắt đầu viết tản mạn là một ngày cuối đông. Những cây phong sân trường lúc đấy đang đỏ rực. Sáng nay, khi tôi đến trường thật sớm để chụp ảnh, tôi chợt nhận ra cũng những cây phong đấy đã sum suê xanh lá. Hôm nay đã là giữa mùa xuân. Sân trường nghiêng sang sắc tím của những cây tôi gọi là phượng tím. Các bạn tôi gọi là jacaranda, tôi tra từ điển Lạc Việt thấy cho nghĩa là lan dạ hương. Để cho đơn giản, nếu tôi có nhắc lại tên loại cây này trong bài viết này tôi sẽ gọi chúng là phượng tím.

Đà Lạt cũng có một cây phượng tím. Tôi chưa bao giờ ngắm nó thật kỹ để có thể chắc chắn rằng phượng tím Đà Lạt chính là phượng tím Brisbane. Tôi chẳng dại gì khẳng định một điều tôi không biết rõ. Điều duy nhất mà tôi có thể chắc chắn vào lúc này là tôi đang rơi vào một tình trạng hết sức bi kịch.

Xin đừng vội trầm trọng hóa vấn đề. Đã từng sống ở một thành phố như Sài Gòn gần mười năm, nơi mọi bi kịch vốn không nhiều trên sàn diễn đều ít nhiều nhuốm màu hài kịch, thì khi tôi nhắc đến bi kịch cũng có thể chẳng là vấn đề gì ghê gớm lắm. Đó là chưa kể bi kịch của tôi có thể khác hoàn toàn bi kịch của bạn. Càng khác ghê gớm cái bi kịch về miếng ăn và nhà ở mà Nguyễn Huy Thiệp từng nhắc đến. Bi kịch của tôi vài ngày gần đây đơn giản chỉ là tôi không ngủ được khi muốn ngủ và buồn ngủ khi muốn thức. Đang giữa một chương trình ti vi yêu thích, mắt tôi díp lại và không còn nghe anh chàng hoạt náo viên ba hoa những gì. Nhưng khi quyết định ngủ thì mắt tôi lại thao láo mở ra như chưa từng bao giờ buồn ngủ. Sau một hồi lăn qua lộn lại, tôi quyết định ngồi dậy và viết một cái gì đó cho đến khi nào không nhấc nổi mí mắt nữa thì thôi. Tôi đã có ý định viết về những người bạn Đức của tôi từ lâu, có khi đêm nay là một dịp tốt.

Tôi vốn không ưa nuớc Đức. Như bao cậu học trò từng ngồi dưới mái trường xã hội chủ nghĩa, tôi yêu nuớc Nga một cách vô điều kiện. Mà Đức thì gây chiến với Nga…

Tôi không ưa Đức còn vì bóng đá Đức. Thứ bóng đá lạnh lùng, khô khan từ đội tuyển cho đến câu lạc bộ, tàn nhẫn diệt những đội bóng lãng mạn mà tôi yêu thích.

Ấn tượng của tôi về người Đức càng tệ hại hơn khi người Đức đầu tiên tôi gặp ở trường Queensland là một cô gái luôn chun mũi lại khi nói chuyện. Tên cô ta là Astrich thì phải, nhưng nếu ai đó nghĩ rằng cô ta phải tên là Ostrich tôi cũng không phản đối.Tôi gặp Ostrich, à quên Astrich, trong buổi tiệc trà chào đón các sinh viên luật quốc tế mới đến trường. Astrich bắt tay tôi, nhăn mũi, xưng tên (hoặc trình tự ngược lại, không nhớ rõ lắm), rồi sau đó nói chuyện với những người khác mà không liếc tôi đến lần thứ hai. Sau đó tôi còn gặp cô nàng trong lớp Luật Nhãn hiệu hàng hóa và lớp Hệ thống pháp luật các nuớc Đông Á nữa, thế mà cô nàng chả buồn cười với tôi lấy nửa cái. Tôi chỉ thấy cô nàng vẫn nhăn mũi mỗi khi tranh luận bốp chát với giảng viên. Sau này tôi hỏi Philipp về Astrich, Philipp bưng mặt và nói trời ạ, con gái Đức học luật điển hình đấy, không thể nào chịu nổi. Con trai Đức còn không chịu nổi, huống gì con trai Việt Nam như tôi.

Chẳng hiểu sao ngừơi Đức đến Queensland học luật nhiều thế, vào lớp nào cũng gặp ít ra ba, bốn tên. Ngừơi Đức chăm học nên đâm ra hay gặp tôi ở thư viện.(Câu này nhằm khẳng định sự chăm học của người Đức, chứ tôi không có ý định tự khoe. Tôi thường có mặt ở thư viện nhưng điều này không có gì bảo đảm cho sự chăm học của tôi.) Vài câu chào hỏi xã giao, rồi đi ăn trưa chung, đi uống café. Rốt cuộc bây giờ tôi có ba người bạn Đức khá thân, tên là Joerg, Philipp và Sirko.

Joerg cao một mét tám muơi tư, 24 tuổi, dân miền Bắc nuớc Đức, giáp với Đan Mạch. Joerg trắng nhất trong các người Đức tôi đã gặp, người da trắng điển hình. Câu lạc bộ bóng đá yêu thích của Joerg là Werder Bremen. Tôi nhìn thấy Joerg cũng trong cái ngày mà tôi gặp Astrich, nhưng mãi đến học kỳ hai chúng tôi mới nói chuyện với nhau, thông qua một người bạn chung người Malaysia. Phải gặp Joerg trước Astrich, thì ấn tượng về ngừơi Đức của tôi đã tốt hơn nhiều lần.

Nhà Joerg cách nhà tôi chỉ mỗi cái trạm xăng. Từ lúc chơi với nhau thì cứ cách ngày một lần, vào lúc năm giờ chiều, Joerg sẽ đến gõ cửa căn hộ của tôi. Chúng tôi đi bộ một quãng, đến con đường nhỏ dành cho xe đạp và người đi bộ dọc bờ sông thì bắt đầu chạy. Hồi chưa chạy cùng Joerg tôi chạy một mình, thường chỉ chạy một phần ba con đường thì thở hổn hển và đi bộ ngược lại. Hôm đầu chạy cùng Joerg, được hai phần ba đường tôi đứng lại còn Joerg vẫn chạy cho đến cuối đường. Hôm sau tôi cố thêm một chút. Hôm sau tôi cố thêm một chút nữa và đến lần chạy cùng thứ tư thì tôi đã có thể thoải mái chạy đến cuối đường, cùng nghỉ khoảng 5 phút rồi chạy bộ trở về. Thật là chỉ cần cố một chút thì người ta có thể khá hơn rất nhiều. Từ đấy trở đi tôi bao giờ cũng hoàn thành đường chạy, kể cả những hôm Joerg bận và tôi chạy một mình.

Hay gặp nhau nên chúng tôi nói chuyện với nhau khá nhiều. Có lần chúng tôi gặp trên đường chạy một thiếu niên Australia, là bạn ở cùng nhà cũ với Joreg. Joerg khoe cậu nhóc đấy (mười chin tuổi) uống rượu rất nhiều, hút thuốc rất kinh, nhưng ở cùng với Joerg một thời gian, cậu này bỏ thuốc và bắt đầu chạy cùng với Joerg. Bây giờ Joerg đã chuyển sang nhà khác, cậu đấy vẫn tiếp tục chạy. Nhưng độ chục hôm sau Joergebảo tôi là cậu này bỏ chạy rồi, và uống bia nhiều hơn trước. Joerg bảo bọn thiếu niên Australia này uống ghê quá, cha mẹ chúng giàu chúng chỉ biết tiêu tiền thôi chứ chả biết quý tiền. Ở Đức bây giờ nhiều thanh niên mới lớn cũng chỉ biết hưởng thụ như thế. Joerg nói Joerg cảm thấy lo lắng, vì thành công của xã hội Đức là dựa trên tính kỷ luật và lao động chăm chỉ. Nay nếu lớp trẻ chỉ hưởng thụ thì xã hội Đức sẽ xuống dốc.Trong khi đó những nước như Trung Quốc, cả nước họ đang làm việc rất hăng để phát triển thật nhanh…Joerg chính là người đã đọc Hermann Hesse cho tôi, còn tôi thì đọc Từ thế chi ca của Chế Lan Viên cho Joerg.

Mười lăm năm qua, tuy không đều đặn, nhưng tôi vẫn duy trì thói quen chạy bộ. Lúc nào chạy không nổi thì đi. Mỗi khi có một sự kiện nào đó trong cuộc đời, chúng tôi biên thư cho nhau. Joerg, vào thời điểm này, đang làm phụ tá cho thẩm phán đâu đó gần Hamburg, đã có hai con và một bạn gái, không rõ cưới chưa. Chúng tôi sẽ gặp lại nhau vào tháng 8. It’s going to be fun.


Phần 2. Sirko – The Professor (Biên tại Việt Nam, 2009)

Tôi vừa ăn xong con tôm hùm to nhất trong đời tại Mũi Né. Nó to đùng, to đoàng, thịt trắng phau, cắn một miếng nước bọt ứa ra, cắn hai miếng muốn xỉu. Tôi chỉ ăn có nửa con thôi mà đã xiểng liểng. Tiếc là tôi chỉ nghĩ đến chuyện chụp hình, sau khi nó chỉ còn trơ vỏ. It's 25 minutes too late. Dù sao đi nữa, tôi cũng không mang máy ảnh theo trong chuyến đi này. Giáo sư, hay con chuột bạch (hoặc con heo Ghi-nê tùy bạn gọi), là người xơi nửa con còn lại, và giáo sư cũng thừa nhận rằng it was the best lobster he's ever had.

Đây là lần đầu tiên tôi lái xe đi xa đến thế. Hồi nào đến giờ tôi chỉ quanh quẩn tại Sài Gòn. Nhân dịp giáo sư đến thăm Việt Nam, tôi đem giáo sư ra làm vật thí nghiệm. Giáo sư ngáp dài ngán ngẩm suốt ba tiếng đồng hồ đầu tiên trên xe, khi tôi đi mãi mà chưa ra khỏi Dầu Giây. Tôi đã đề nghị với giáo sư xuất phát từ Tân Bình vào lúc 6 giờ, nhưng giáo sư còn choáng với cú sốc visa tại cửa khẩu, không thể dậy quá sớm. Cuối cùng, chúng tôi xuất phát lúc 8 giờ 15 từ khách sạn Đệ Nhất, Tân Bình. Giáo sư đã phải trả 123 đô la Mỹ cho một đêm tại khách sạn 4 sao Đệ Nhất. Tôi thì không hiểu tại sao khách sạn này tên là Đệ Nhất và tại sao nó được mang 4 sao. Tôi không hình dung ra loại du khách nào thì chọn ở khách sạn này, một khách sạn vừa xa trung tâm thành phố, vừa rất trung bình về chất lượng trong khi rất cao cấp về giá cả. Tất nhiên tôi đã không book cho giáo sư vào khách sạn này. Việc giáo sư phải ở khách sạn này trong một đêm chỉ là một tai nạn. Cái tai nạn này, cũng như câu chuyện visa, xứng đáng được kể cặn kẽ, nhưng tôi sẽ chỉ làm việc đó sau khi giáo sư đã rời Việt Nam an toàn.

Suốt ba tiếng đồng hồ trên đường từ Tân Bình đến Dầu Giây, giáo sư lộ rõ vẻ ngán ngẩm. Giáo sư bình luận bằng một giọng hết sức giáo sư, mà cũng hết sức giống một người Đức điển hình. Tao nghĩ giao thông ở Trung Quốc là tệ lắm rồi, nhưng nay tao mới biết giao thông ở đây còn hơn nhiều. Thật là vô tổ chức. Nếu mọi người kỷ luật hơn chút xíu, ai cũng tôn trọng phần đường của mình, thì giao thông của bọn mày chắc không đến nỗi tệ như thế này. Ặc ặc giáo sư ơi, nếu chúng tớ cũng kỷ luật như người Đức của giáo sư, chúng tớ đã khác lắm rồi.

Chúng tôi bò như rùa từ Sài Gòn đến Dầu Giây. Từ Dầu Giây trở đi, đường sá quang đãng hơn rất nhiều. Đến một lúc, tôi nhận thấy chỉ mình xe chúng tôi trên đường, đường rất vắng và rất tốt, có thể chạy hơn 90km/h hoàn toàn thoải mái và nhẹ nhàng. Một lúc nữa thì tôi phát hiện ra đã nhầm vào đường đi Bà Rịa. Có một ngã ba, gọi là ngã Tân Phong mà tôi không để ý. Thay vì rẽ vào hướng đi Mũi Né, tôi lại chạy thẳng. Thế là, tôi phải vòng lại một đoạn khá xa.

Giáo sư là người Đức, bạn tôi khi học ở Brisbane. Giáo sư được gán biệt danh “giáo sư” vì anh hành xử như một giáo sư và uyên bác như một giáo sư. Thời đi học, tôi hay lên thư viện trường nghịch internet và nhong nhóng xem có ai quen thì rủ đi uống café. Nếu tôi rủ giáo sư, trước hết giáo sư sẽ liếc nhìn đồng hồ, rồi bảo OK, tao đi được nhưng tao cần phải tìm một bài báo/cuốn sách, nửa tiếng nữa tao tới. Đúng nửa tiếng giáo sư sẽ tới, gọi một ly gì đó, chuyện trò dăm ba câu rồi giáo sư lại nhìn đồng hồ và bảo, tao phải đi đây, còn phải viết thêm một nghìn chữ cho bài essay vào hôm nay. Tôi nghĩ không có đồng hồ giáo sư sẽ chết mất.

Trước khi học Master ở Úc, giáo sư đã xong Doctoral continental law (hệ thống luật lục địa) ở Đức và đã trợ giảng một số năm. Giáo sư đến Úc vì muốn hoàn thiện tiếng Anh và muốn tìm hiểu thêm về hệ thống common law. Trong khi tôi chật vật lắm mới được điểm 6 hoặc mấp mé 7, thì giáo sư dễ dàng lấy điểm 7 ở hầu hết các môn. Điểm 7 là điểm cao nhất trong thang điểm đại học ở Úc. Sau khi hoàn tất Master ở Úc, giáo sư sang Aberdeen, Scotland để làm thêm một cái Ph.D common law (hệ thống thông luật) rồi trở thành một giáo sư thực thụ tại Leicester, UK. Tổng cộng giáo sư mất mười lăm năm học và nghiên cứu luật trước khi chính thức dạy đại học. Tôi nhớ lúc học luật ở Việt Nam, có những thầy cô chỉ trên tôi ba khóa. Cơm chấm cơm, cháo chấm cháo, nên rõ ràng cơm, cháo chả là cơm cháo gì so với xúc xích, phô-ma.

7 tháng trước khi sang Việt Nam, giáo sư gửi email thông báo ý định và kiểm tra xem tôi có đi đâu trong thời gian đó hay không. Một tháng sau, giáo sư đã mua vé và tôi đã biết chính xác ngày giờ giáo sư hạ cánh. Nửa tháng trước khi đến, tôi đã hoàn tất kế hoạch cho giáo sư tham quan Việt Nam. Trong rất nhiều email qua lại chuẩn bị cho chuyến đi, chúng tôi không mảy may đề cập đến chuyện visa, vì tôi nghĩ đó là chuyện hiển nhiên phải làm trước khi đến bất cứ nước nào. Đúng ra tôi hoàn toàn không nghĩ đến chuyện này và giáo sư cũng hoàn toàn không có bất cứ câu hỏi nào. Thế nên, tôi không biết giáo sư đã quyết định một cách hết sức kém sáng suốt, không đúng tầm giáo sư tí nào: xin visa tại cửa khẩu Việt Nam.

Tôi đến sân bay khi giáo sư vừa hạ cánh. Tôi gọi điện chúc mừng giáo sư, hướng dẫn khi ra ngoài gặp tôi ở chỗ nào. Hai mươi phút sau giáo sư nhắn tin “tao đang chờ lấy visa, mất khoảng 30 phút”. Hơi ngạc nhiên vì không biết rằng visa có thể xin tại cửa khẩu, nhưng tôi vẫn yên bụng ngồi chờ. Đúng 30 phút sau, giáo sư lại nhắn tin “chắc tao còn phải chờ lâu nữa, visa chưa xong”. Bắt đầu hơi nghi ngại, tôi gọi cho giáo sư. Giọng giáo sư vang vang trên điện thoại: “It’s totally unorganised here. I don’t know how much longer I have to wait.” Tôi an ủi giáo sư mày ráng chờ một chút đi, nhưng nếu gặp rắc rối gì thì gọi cho tao. Thêm khoảng 40 phút nữa, điện thoại tôi rung lên. Tin nhắn của giáo sư: “Big problem. I need an invitation, which I don’t have.” Trời ạ, sao không ai bảo với giáo sư rằng cần phải có một invitation mới có được visa, nếu như thủ tục xin visa tại cửa khẩu quả thật cần phải có một invitation?

Khi đã gặp nhau tại khách sạn Đệ Nhất rồi, giáo sư mới nói tao kiểm tra rất kỹ trên trang web (tôi không hỏi kỹ trang web nào, của đại sứ quán Việt Nam hay một trang khác của UK, nhưng tôi đã yêu cầu giáo sư gửi cho cái link). Trên đó nói chỉ cần mang theo hai tấm ảnh và hộ chiếu. Hồi đó tao đi Malaysia cũng xin visa tại cửa khẩu nhanh lắm nên tao nghĩ Việt Nam cũng tương tự. Giáo sư, tuy là giáo sư rồi mà nhiều khi suy nghĩ thật thơ ngây. Thơ ngây hệt như lúc giáo sư tròn mắt ở Tân Phong, cái ngã ba mà tôi đi lạc, khi quành lại rồi tôi phát hiện ra có mấy hàng trái cây ngon lành ven đường. Nghĩ rằng giáo sư sẽ thích trái cây nhiệt đới vừa tươi vừa rẻ nên tôi dừng lại mua hai ký măng cụt và hai ký chôm chôm nhãn. Em bán hàng vừa khúc khích cười vừa cân măng cụt cho tôi. Em nói măng cụt đây ba ký rưỡi luôn rồi anh lấy luôn nhe. Tôi không khúc khích cười như em, tôi thấy bịch măng cụt chút xíu nên nói với em rằng em tính giỡn chơi anh sao chừng này mà hai ký. Em vẫn khúc khích cười mang một cái cân khác ra và thật là tài tình vẫn bịch măng cụt đó bây giờ vừa đúng hai ký. Không biết em còn một cái cân thứ ba nữa không. Tôi áng chừng chừng đó măng cụt chắc cũng xấp xỉ hai ký thật nên móc tiền ra trả. Em khúc khích cười nhận tiền, còn giáo sư thì tròn mắt. Hai mắt giáo sư tròn như hai cái đít tô.

Giáo sư đã mắt chữ O, mồm cũng chữ O nhiều lần từ khi đến Việt Nam. Đêm đầu tiên ở Việt Nam, sau khi đã trả 100 đô để nhận visa và passport, giáo sư được tự do. (Trước đó giáo sư bị buộc phải ở trong khách sạn vì visa chưa có.) Tôi chở giáo sư đi ăn tối. Vừa ló ra đường chính, giáo sư đã ồ lên kinh ngạc khi thấy người và xe lúc nhúc từ mọi hướng. Đến lúc đi trên Hoàng Văn Thụ, đoạn bên hông công viên, giáo sư lại ồ lên khi thấy xe máy và ô tô đan xen vào nhau, chịu không biết làn nào ra làn nào. Giáo sư ồ to hơn khi một chiếc taxi lấn qua mặt tôi từ bên phải đồng thời một chiếc taxi lấn qua từ bên trái. Nhưng đến lúc xe nhích từng mét một trên đường Nguyễn Văn Trỗi, nơi có những lô cốt trơ gan cùng tuế nguyệt bao nhiêu tháng qua, giáo sư chán không ồ à nữa, chỉ van vỉ tôi chở đến một quán ăn nào càng gần càng tốt. Giáo sư chỉ ồ lên một lần nữa khi xe vào Nam Kỳ Khởi Nghĩa, vì lúc đó giáo sư vui sướng phát hiện ra đường này có làn riêng cho xe máy và ô tô. Tôi không kể cho giáo sư rằng người ta đã thi công con đường này gần 4 năm qua. Tuy vậy giáo sư cũng kịp nhận xét chính phủ mày phải làm một điều gì đó về giao thông, vì giao thông không trôi chảy thì kinh tế sẽ trì trệ. Tôi cười.

Tôi cười vì tôi không thể khóc. Không khóc khi gặp bạn cũ sau 6 năm. Không khóc ở Ho Chi Minh City. Không khóc trên đường đi Mũi Né.

Lần đầu tiên lái xe đi xa với một con chuột bạch nặng 85 kg, tôi phát hiện ra mình lái xe cũng không tồi và lái xe đường dài cũng không đến nỗi kinh hãi lắm. Tuy vậy tôi cũng sợ vài thứ. Thứ nhất là xe bus. Bus ở đây không phải là loại lô cốt di động thường thấy ở nội thành Sài Gòn mà loại xe chở du khách của các công ty du lịch. Cánh lái xe bus mặc nhiên biến làn bên trái thành làn xe của mình và chỉ chịu đi đúng làn khi có xe từ hướng ngược lại. Thứ hai là các bác OS. OS là diễn đàn otosaigon.com, một diễn đàn chuyên về xe pháo các loại, nếu cần bất cứ thông tin gì về xe cộ, đường sá, đi lại bạn có thể vào đây luôn có người sẵn lòng trả lời cho bạn. Các thành viên OS, như thể hiện trên forum, thường xuyên kêu gọi nhau lái xe an toàn, đúng luật lệ. Họ dán logo otosaigon.com màu cam trên xe để nhận ra nhau.

Sau đây là chuyện tôi “gặp” các bác OS: Lúc ra khỏi Phan Thiết một đoạn, đột nhiên tôi thấy một đoàn bốn, năm chiếc nhấp nha nhấp nháy đèn từ một cây xăng ven đường phóng ra đường chính với tốc độ khá cao. Đoàn xe này khi nhập với dòng xe trên quốc lộ rồi vẫn nhá đèn xi-nhan trái liên tục, có xe còn bật cả đèn khẩn cấp. Ở ngay phía sau họ nhìn tới, tôi quá chóng mặt với tín hiệu đèn không ngừng nhấp nháy bèn chạy chậm hẳn lại cho họ đi khuất mắt cho rồi. Lúc qua khỏi Dầu Giây chút xíu, xe phía trước hơi ùn cả lại. Thì ra có bốn năm chiếc cùng tấp vào lề đường. Tôi vượt lên, nhìn thấy một tốp năm bảy bác đứng quay lưng bên đường, hai tay hẳn là ở phía trước bụng cầm một cái gì đó. Tôi không nghĩ rằng tôi cần phải miêu tả cụ thể hơn họ đang làm gì. Đến lúc đó tôi vẫn chưa biết rằng đây là các bác OS mà tôi vẫn ngưỡng mộ. Chỉ khi, hẳn là sau khi các bác giải quyết tình yêu thiên nhiên xong và đồng loạt qua mặt tôi, một bác bên trái, ba bác bên phải gần như cùng lúc, thì tôi mới choáng váng nhìn thấy logo otosaigon.com trên xe các bác, gồm hai chiếc BMW, một chiếc Mercedes và một Ford Escape. Trừ chiếc Ford Escape, ba chiếc kia đều bật đèn khẩn cấp. Quả là một sáng kiến phi thường!

Nếu vấn đề giao thông và đường sá có mang lại đôi chút phiền toái và mệt mỏi, thì Mũi Né thật sự là món quà tuyệt vời cho giáo sư, một người đã 6 năm chôn thân ở một xứ ướt át lạnh lẽo như Aberdeen và sau đó là Leicester. Đang giữa mùa mưa nhưng may cho giáo sư chúng tôi không gặp phải một cọng mưa nào. Trời nắng to, biển xanh, cát trắng, ngồi nhấm nháp ly mojito trong quán bar bên bờ biển, giáo sư công nhận rằng it’s worth the drive. Buổi tối, tôi chở giáo sư chạy tà tà trên con đường chính ở Mũi Né, hai bên đường resort, quán ăn và spa nằm san sát. Tôi cho giáo sư tự chọn quán nào vừa mắt thì xông vào. Rốt cuộc giáo sư chọn một nhà hàng seafood BBQ tên là Quê Hương. Chính ở trong quán này chúng tôi đã phanh thây con tôm hùm trắng phau, ngọt lừ kể trên. Tôi rất tiếc không chụp hình được con tôm hùm này, vì như đã nói, lúc nhớ ra thì đã quá muộn. Con tôm hùm vùng vẫy trong đại dương kết thúc cuộc đời oai hùng lừng lẫy trong bao tử chúng tôi mà không có lấy một tấm ảnh để tôm hùm vợ và tôm hùm con hương khói. Đời nhiều khi chẳng biết nói thế nào. Tương lai bao giờ cũng khó đoán định.

Cho dù thế, với một nửa con tôm hùm trong bụng, giáo sư đã dự đoán một tương lai tươi sáng cho ngành du lịch Việt Nam. Đại để ở châu Âu chẳng mấy ai biết Việt Nam chúng mày có bãi biển đẹp thế này, resort oách thế này, tôm hùm ngon thế này. Dân châu Âu phần lớn chỉ biết Thái Lan, Malaysia, Bali. Chúng mày phải quảng cáo cho thế giới biết. Chính phủ mày phải làm một cái gì đó để thu hút thêm du khách. Tôi cười. Chính phủ tao is working on it. Ít nhất trong vòng năm năm qua slogan ngành du lịch Việt Nam đã đổi những ba lần. Từ “Vietnam – a destination for the new millennium”, cho đến “Welcome to Vietnam” rồi bây giờ là “Vietnam – a hidden charm”. Very well hidden, indeed.

Mũi Né thay đổi nhiều chỉ sau một năm. Năm ngoái đến đây, tôi chưa thấy nhiều spa như bây giờ. Trung tâm tắm bùn khoáng tương tự như ở Tháp Bà Nha Trang, cũng như nhà hàng Hoa Viên bia Đức, nơi tôi và giáo sư ngồi uống bia tươi và tưởng nhớ tôm hùm cũng chưa có. Mới nhất và đặc sắc nhất là con đường mới mở từ đầu Mũi Né, xuyên qua đồi cát đến thẳng Hòn Rơm. Đường chạy trên cao uốn lượn theo đồi, trông xuống vịnh Mũi Né đẹp đến nghẹt thở. Chất lượng đường cực tốt, có thể chạy trên 100km/h hết sức nhẹ nhàng. Tuy nhiên, tôi không hiểu vì sao người ta cắm bảng giới hạn tốc độ 30km/h trên toàn tuyến. Trên đường từ Sài Gòn ra Mũi Né, nhiều đoạn đường khá tốt, dân cư thưa thớt, tôi cũng không hiểu tại sao tốc độ giới hạn là 50km/h, khiến cả đoàn xe phải nối đuôi nhau rù rì. Cảm giác những lúc đó thật là tưng tức, y như sau khi bạn uống nước quá nhiều, bụng căng tròn mà không thể nào đi ấy được.

Cho dù hết sức mê Mũi Né, bảo rằng nếu có thời gian sẽ ở Mũi Né cả tuần, giáo sư vẫn muốn quay lại Sài Gòn để đi thăm địa đạo Củ Chi. Giáo sư chỉ có ba ngày ở Việt Nam. Giáo sư rất muốn nhìn thấy hệ thống địa đạo lừng danh, muốn hiểu vì sao Mỹ đã thua ở Việt Nam. Giáo sư nói, chỉ có mỗi Việt Nam mày là thắng được Mỹ thôi. Đúng là như thế thật, tôi bảo, nhưng cái giá chúng tao phải trả rất đắt, mày có biết hơn ba triệu người Việt đã ngã xuống trong hai mươi năm chiến tranh không? Mỹ thua trận nhưng chỉ có 58.000 người chết, người Mỹ sang đây nhặt từng bộ xương mang về, còn chúng tao, chúng tao có cả một đất nước tan hoang, có những vết thương không bao giờ hàn gắn, và đến bây giờ, vẫn còn những hận thù không nguôi. Giáo sư bảo đó là một cuộc chiến không cần thiết. Có cuộc chiến nào là cần thiết không hả giáo sư của tôi? Nhân dân có bao giờ cần chiến tranh, chỉ có một số ít người “cần” nó…

Để tránh kẹt xe trong nội thành, tôi chở giáo sư theo đường Nguyễn Văn Linh ra quốc lộ 1A rồi ra đường Xuyên Á, tuy xa hơn tí nhưng không gặp thảm cảnh nhích từng mét một như hôm đi Mũi Né. Đường Xuyên Á khá tốt, nhưng tốc độ cho phép cũng chỉ có 50km/h.

Củ Chi, một vùng quê xanh mướt dần hiện ra trong mắt chúng tôi. Hứng nửa triệu tấn bom trong chiến tranh, Củ Chi từng là đất trắng. Tất cả cây cối nơi đây chỉ mọc lại từ sau chiến tranh kết thúc. Đi giữa rừng rậm, tôi hỏi giáo sư nếu mày là lính Mỹ mày có dám đến đây không? Giáo sư lắc đầu, lè lưỡi.

Giáo sư kinh ngạc thật sự khi biết rằng hệ thống địa đạo dài đến 250km, có chỗ sâu đến 10m, gồm 3 tầng, tầng trên cùng để sinh hoạt và chiến đấu, tầng thứ hai dự trữ lương thực và vũ khí, tầng thứ 3 sâu nhất để tránh bom. Ở tầng dưới cùng, đường hầm có những đoạn eo để lính Mỹ có vào đến đó cũng không thể chui qua được. Nhưng tôi nghĩ, chắc là khó có lính Mỹ có thể vào đến đây mà còn sống sót. Cái nắp hầm trên mặt đất, nếu phát hiện ra cũng khó có thể chui vào, chưa kể nhấc nắp hầm lên sẽ có nguy cơ trúng mìn mà người du kích cuối cùng vào hầm đã cài lại. Còn qua khỏi cửa hầm, nếu không dính đạn cũng rơi vào hầm chông. “Cái hầm chông là điều nhân đạo nhất” (Chế Lan Viên). Hãy thử hình dung một anh lính Mỹ to béo ngắc ngoải không sống mà chưa chết giữa hầm chông.

Sau khi tham quan một số đoạn tiêu biểu của hệ thống địa đạo như hầm chỉ huy, hầm cứu thương, hầm hội họp, bếp Hoàng Cầm .v.v., giáo sư, hẳn lúc đấy bụng đang diễn ra phản ứng phức tạp giữa tôm hùm và trái cây nhiệt đới, đột nhiên hỏi cậu hướng dẫn viên, ngày xưa du kích muốn đi toa-let thì đi đâu, làm bên trong này luôn hay ra ngoài. Tôi thấy giáo sư ngu chi lạ! Ra ngoài để mà ăn kẹo đồng à? Du kích Củ Chi anh hùng gan dạ mưu trí, không lẽ chết vì một lý do lãng xẹt. Cậu hướng dẫn viên, con trai một cựu du kích Củ Chi từng bị thương trong chiến tranh, kiên nhẫn giải thích rằng người ta sẽ đào một ngách nhỏ, sau đó đổ tro vào lấp lại. Tôi biết người ta có thể đào một cái ngách, hoặc một cái lỗ, nhưng không chắc người ta có đủ thời gian lấp lại hay không. Giáo sư sau khi đã được giải thích tường tận, thỏa mãn trèo ra ngoài đi kiếm restroom. Tôi ngồi ở canteen nhấm nháp một que kem Kinh Đô. Lúc sau, giáo sư đi ra, nhìn trước nhìn sau rồi thì thào với tôi, chết rồi mày ơi, lúc nãy không để ý tao vào nhầm toa-lét nữ!

Ngoại trừ tai nạn nho nhỏ đó, giáo sư rất hứng thú với chuyến tham quan. Giáo sư nói tao hết sức khâm phục dân tộc mày đã xây dựng được một hệ thống địa đạo tài tình như thế chỉ với một cây cuốc nhỏ. Bây giờ tao hiểu sao Mỹ phải thua ở Việt Nam. Chiến tranh ở nước mày thật sự là chiến tranh nhân dân.

Nghĩ ngợi một hồi, đột nhiên giáo sư hỏi, nhưng sao hồi đó bọn mày xây dựng được một hệ thống địa đạo vĩ đại như vậy, mà bây giờ bọn mày chưa xây dựng được một đường cao tốc tử tế? Giáo sư hỏi câu hỏi khó, tôi không trả lời được. Cũng như tôi đã không trả lời được câu hỏi tại sao có nhân viên một công ty dịch vụ xuất hiện ở của khẩu đề nghị làm giúp visa với giá 100 đô, mà nếu không chịu làm giáo sư chỉ có nước lên máy bay về nước ngay tức khắc.

Buổi tối cuối cùng, giáo sư đến nhà chúng tôi ăn tối. Chúng tôi tặng giáo sư một khăn trải bàn thêu tay xem như là quà cưới cho giáo sư. Sáng hơm sau giáo sư bay đi Melbourne. Ổn định công việc ở Melbourne, giáo sư sẽ phải đón cô vợ mới cưới người Trung Quốc sang. Giáo sư nói bọn Úc thế mà lề mề, visa vợ chồng mà mất đến những ba tháng mới xong. Tuy nhiên tôi tin, cho dù mất ba tháng, giáo sư sẽ không bị bắt chẹt. Như đã từng bị bắt chẹt trên một sân bay lạ.

Sirko, hiện là giáo sư khoa luật ở Edinburg, vợ người Trung Quốc, đã có hai con. Chúng tôi sẽ gặp lại nhau vào tháng 8 ở Munich. It’s going to be fun.

Phần 3. Philipp  - The Vagabond (Biên tại Đức, 2017)

Tôi chưa bao giờ có ý định đặt các ông bạn Đức của mình lên bàn cân (nghĩa đen, không phải nghĩa bóng) để coi ông nào nặng nhất, nhưng tôi biết chắc Philipp là ông nhẹ cân nhất. Thời điểm 2002, Philipp chỉ nặng 67 cân cho thân hình một mét tám mấy. Sở dĩ tôi biết rõ cân nặng của Philipp, là vì vào cái năm 2002 khi chúng tôi còn trẻ trung và hoang dại ấy, một đám sinh viên đủ quốc tịch đang học ở Brisbane rủ nhau đi chơi đảo Fraser. Trước khi đi, cả đám chỉ biết nhau sơ sơ, đại khái đứa này rủ đứa kia, đứa kia rủ đứa nọ. Đi về rồi thì vẫn chỉ biết nhau sơ sơ thôi. Bạn ba ngày cũng như tình một đêm, vui không cam kết. Trên đảo Fraser, tại hồ nước ngọt McKenzie, nơi cát tuyệt đối trắng và nước tuyệt đối tinh khiết đến nỗi không sinh vật nào sống được, đám chúng tôi chơi trò trồng tháp người. Bốn tên to khỏe nhất làm đế, ba tên đứng trên vai bốn tên kia, và một tên nhẹ cân nhất leo lên làm tầng trên cùng. Tôi đứng ở tầng thứ hai, còn Philipp chính là tên leo làm đỉnh tháp, vì hắn khéo, khỏe, lại nhẹ cân nhất theo khai báo. Lần ấy, một em người Brazil, bồ của một cậu Mexico trong đám, là người duy nhất chụp hình tháp người trên hồ McKenzie nhưng mải vui không thu thập email hay số liên lạc của nhau nên tôi chưa bao giờ có tấm hình đó. Ngoài trò tháp người, điều tôi nhớ nhất trong chuyến cắm trại ấy là việc Philipp moi móc, nhặt nhạnh từng mảnh vỡ chai bia mà đám La tinh thác loạn kia (!) quăng tung tóe, thậm chí vùi vào tro, cho vào thùng rác.

Mười lăm năm gặp lại, Philipp dường không thay đổi mấy. Vẫn kiểu tóc bồng bềnh, thân hình vẫn mảnh khảnh vẻ không tăng kí lô gam nào, nói vẫn nhanh và giọng vẫn sôi nổi, trên đường đi công tác mà quần jean áo thun tuềnh toàng, ba lô sau lưng, trông ngài luật sư của một hãng phim Munich vẫn chẳng khác gì gã lãng tử lang thang khắp Úc năm nào. 18 tuổi, Philipp đến Úc lần đầu, lang thang vài tháng như nhiều thanh thiếu niên Đức khác.  Hơn chục năm sau, Philipp quay lại Úc để học thạc sĩ luật, nhưng trước khi vào chương trình đã kịp làm thêm một tua vòng quanh Úc. Rời Úc vài năm, Philipp quay lại Úc một lần nữa để đi nốt những nơi chưa kịp đến trong những chuyến đi ngày xưa. Ngày trước cũng như bây giờ, mỗi lần Philipp kể chuyện Úc là bọn tôi lại mắt tròn mắt dẹt. He knows everything about Australia. Well, not just Australia, to be accurate. Nhưng không như Sirko, kiến thức của Philipp hoàn toàn không dấu vết kinh viện. Những gì Philipp biết là những gì Philipp thu thập từ những chuyến đi. Nếu Sirko là sách thì Philipp là đời. Sách uyên bác mà đời thì phong phú, giàu trải nghiệm. Philipp chính là người chỉ cho tôi dây leo ở Nam Bán cầu xoắn ngược hướng với dây leo ở Bắc Bán cầu như thế nào, và mãi gần đây thì J. – cậu đồng nghiệp Ecuador mới kể cho tôi rằng cả xoáy nước toa lét cũng ngược nhau ở hai bán cầu, và đó là một trong những thứ khiến Ecuador nổi tiếng.

Tôi chưa nói là tôi gặp lại Philipp sớm hơn dự định một chút nhờ vào một trong những đặc sản nước Đức, hay cũng có thể cả châu Âu, đó là tự tử trên đường tàu. Hôm ở Paris tôi hay đi lại đường tàu B mà bạn bè Paris của tôi ai cũng bảo đường tàu này lắm người tự tử, nguyên do đường tàu này đẹp hơn các đường tàu khác. Ở Đức thì, Philipp bảo, bác tài nào cũng từng đâm người rồi, bình quân một tài xế sẽ gặp phải ba vụ tự tử trong suốt đời lái tàu của mình. Số vụ tự tử đặc biệt cao vào dịp Giáng sinh. Mùa đông dài u ám, lạnh lẽo, ai không có gia đình người thân ở bên dễ quẫn trí. Thế nhưng tại sao không chọn những cách khác mà chọn cách lao vào đường tàu, thân xác nát tan, còn làm tài xế bấn loạn và làm khổ bao hành khách? Tôi đem câu hỏi ấy hỏi A., cậu sếp cũ của tôi, và câu trả lời là, biết đâu cuối đời họ muốn thu hút sự chú ý. Những con người cô đơn ấy sống không ai biết, không ai quan tâm, chỉ có cái chết mới đem lại tiếng xôn xao, nếu không phải vài hàng trên tờ báo địa phương, thì cũng đôi lời nguyển rủa trên môi đám hành khách lỡ chuyến. Tôi, do bệnh nghề nghiệp, nên bảo A. hay là ta soạn một bản cẩm nang tự tử, kiểu như Làm thế nào để tự tử một cách có đạo đức, hay Tự tử - nên và không nên. A. lúc đấy đang lái xe chở tôi đi ăn trưa ở một quán Thổ về, suýt đâm xe vào lề đường. 

Số là Philipp và tôi hẹn nhau ở Cologne. Philipp sẽ từ Munich sang gặp tôi, kết hợp một cuộc họp cho công ty vào sáng hôm sau. Còn tôi, thì từ Heidelberg trở về, đổi tàu ở Manheim. Lẽ ra sẽ gặp nhau ở Cologne, nhưng khi biết tôi đang ở Heidelberg, Philipp, vừa ghé thăm bố mẹ ở Stuttgart, cũng đổi tàu ở Manheim như tôi. Kế hoạch mới là sẽ gặp nhau trên tàu từ Manheim về Cologne. Thế nhưng do một vụ tự tử, ấy là Philipp đoán vậy, vì thông báo chính thức chỉ nói về một vụ tai nạn, nên chúng tôi có khoảng hơn một tiếng cà phê ngoài dự tính ở Manheim rồi mới cùng lên tàu về Cologne. 

Ở quán cà phê cũng như trên tàu, Philipp là người nói nhiều nhất, không ngớt, cả với tôi lẫn với J.. cậu đồng nghiệp Ecuador đồng hành Heidelberg cùng tôi. Philipp gần như không hề sử dụng tiếng Anh trong công việc, vậy mà tiếng Anh của Philipp vẫn lưu loát đáng kinh ngạc, tằng tằng không chút ngượng nghịu nào. Tôi không hiểu người Đức học tiếng Anh kiểu gì. Ví như giáo sư Sirko, lúc mới gặp ở Úc, giáo sư bảo tao chỉ học tiếng Anh ở phổ thông, ra trường rồi thì chẳng sử dụng bao giờ, vậy mà sang Úc cãi nhau với thầy cô như ngóe, trong khi tôi khoe mình làm cho tây nhiều năm, tiếng Anh tao á, prossional lắm á, mà mấy tháng đầu tiên ở Úc, nghe  giảng cứ ù ù cạc cạc, đừng nói tới chuyện mở mồm cãi nhau. 

Hóa ra từ khi ở Úc trở về, Philipp cũng làm tiến sĩ, rồi đi làm luật sư cho một hãng phim ở Munich, suốt từ bấy. Tôi vẫn biết Philipp làm trong ngành phim ảnh, chỉ không biết cậu ta làm mỗi một chỗ suốt bao năm. Chỗ làm thì một, bạn gái thì một vài, nhưng chẳng move in với ai. Philipp thú nhận có gia đình cũng hay, nhưng tao sống một mình quen rồi, ngại phải chia sẻ cuộc đời mình với ai đó. Chẳng phải ở Việt Nam, nên chẳng ngại trả lời những câu hỏi kiểu bao giờ cho bác uống rượu/ ăn kẹo? (Viết tới đây chợt nhớ cách đây vài hôm một bạn gái tôi chưa gặp bao giờ bỗng inbox tâm sự với tôi em buồn quá anh ạ, cưới nhau mấy năm rồi mà chưa có con, mọi người cứ hỏi mãi làm em rơm rớm nước mắt. Tôi, chuyên viên gỡ rối tơ lòng bất đắc dĩ, chỉ có thể bảo là cứ bơ đi mà sống em ạ, kệ mọi người.) 

Trong bữa ăn tối, chúng tôi nói về Donald Trump (người Đức nào chẳng nói về Donald Trump?), khí hậu (xứ mày khô thấy mà ghê, môi tao lúc nào cũng khô, da tao lúc nào cũng ngứa, phải xài cả lotion), về môi trường (xứ tao có công ty Đài xây nhà máy thép xả nước thải ra biển, cá chết hàng loạt, dân đi biểu tình mà chánh phủ cóc cho, bọn nó hứa bồi thường năm chăm chiệu giờ chẳng biết tiền đi đâu về đâu), về hệ thống chính trị Đức (tổng thống tao ngồi chơi thôi mày ơi, giống như nữ hoàng vậy, chỉ ký giấy chớ hông làm gì), về EU (thì Hy Lạp nó làm biếng đã đành, nhưng giờ bọn tao sợ nhất là Ý, Ý nó tèo thì EU gay go to), các nước Đông Âu cũ (mày qua Prague đi mày không thấy người nước ngoài nào đâu, trừ đám tourist như mày, tất nhiên),  và nhiều nhiều thứ khác nữa. Nói nhiều vậy nhưng tới 10 giờ đã về, vì Philipp không uống bia, mà tôi buồn ngủ sớm. Bữa trước đi Heidelberg share phòng với J. mà cậu ta kéo cưa hơi kinh nên tôi hầu như không ngủ mấy.

Bọn tôi sẽ gặp lại nhau tháng 8 ở Munich, có cả Sirko từ Anh bay qua và Joerg từ Hamburg. Sẽ leo lên dãy Alps. It’s going to be a lot of fun, like the good old days, when we went to Fraser Island or Alexandria Beach in Noosa Heads. That damn nudist beach, with a lot of ugly naked people!