Thursday, 20 December 2012

Mỗi độc giả là một dịch giả

Dưới đây là trích dịch từ lời giới thiệu trong tập  The Craft of Translation do John Biguenet và Rainer Schute biên tập. Tiêu đề entry do bổn blog tự bịa.

"“Đọc, đã là dịch.” Trong quá trình đọc, người đọc được cấy vào khí quyển của một tình huống mới mà tình huống ấy không dựng nên chỉ một thực tại xác định rõ ràng, mà đúng hơn là dựng nên các khả năng về nhiều thực tại khác nhau. Đọc, là tái lập sự bất định của chữ, cả như một hiện tượng tách biệt, lẫn như một khả năng ngữ nghĩa của một câu, đoạn, hay ngữ cảnh của toàn bộ tác phẩm.  Việc tái phát hiện ra sự bất định đó trong mỗi chữ tạo nên thái độ ban đầu của người dịch.  Đọc, trở thành việc tạo ra nghĩa mà không phải là mô tả của những nghĩa đã được cố định. Văn bản văn chương giàu tính tưởng tượng đặt người đọc giữa nhiều thực tại cần được giải mã và điều chỉnh đến những góc nhìn cụ thể mà người đọc mang đến cho văn bản. Hành vi đọc nên được xem là sự tạo ra các bất định, như là động lực hướng đến quá trình ra quyết định, như là sự khám phá ra những mối tương giao có thể nghiệm thấy được nhưng không thể mô tả được bằng một thứ ngôn ngữ hướng-nội-dung.  Trong quá trình dịch không có các câu trả lời xác định, mà chỉ có những cố gắng chạm đến các giải pháp để phản hồi cho các trạng thái bất định tạo ra do sự tương tác giữa trường ngữ nghĩa và âm thanh của chữ.  Đọc, là cổ xúy cho việc tạo ra nghĩa thông qua những câu hỏi trong đó khả năng của một câu trả lời  lại dẫn đến một câu hỏi khác: Còn nếu.. thì sao?

Đọc, là chuyển hóa văn bản, và trong khi cấy văn bản vào môi trường của một ngôn ngữ mới, dịch giả tiếp tục quá trình chuyển hóa đó. Không có chuyển hóa thì không có dịch; có lẽ đó là lý do tại sao trong việc chuyển dịch các tác phẩm văn chương, dịch từng chữ một chưa bao giờ thành công. William Weaver tán đồng sự bất định này khi viết: “Sai lầm tệ hại nhất của dịch giả là cứ tự trấn an mình bằng cách nói “bản gốc nói đúng như thế”, và không chịu vật vã để làm hết mình. Chữ trong bản gốc là chỉ là điểm xuất phát; dịch giả phải làm nhiều hơn việc chỉ chuyển tải thông tin (ý nói dịch giả văn chương).”  [William Weaver là người dịch nhiều tác phẩm của Italo Calvino và Umberto Eco từ tiếng Ý sang tiếng Anh.]

Tuy nhiên, chữ đóng vai trò khởi phát việc đọc và quá trình diễn dịch mà rốt cuộc sẽ dẫn đến hành vi dịch. Dịch giả, trong hành vi đọc, tương tác với chữ theo một cách nhất định. Họ tái khảo sát chữ về phương diện chức năng ngữ nghĩa và văn hóa của chúng. Gregory Rabasa mô tả cường độ mà một dịch giả tiếp cận văn bản: “Tôi luôn cho rằng dịch, về cốt lõi, là cách đọc sát nhất mà người ta có thể tiến hành đối với một văn bản. Dịch giả không thể phớt lờ những từ “kém quan trọng”, mà phải cân nhắc từng ly từng tí một.”

Friday, 14 December 2012

Tản văn của một người đọc sách


Chúc mừng Nguyễn Vĩnh Nguyên ra sách mới với cái tựa không thể dài hơn: Tản văn Nguyễn Vĩnh Nguyên - Tivi, xe máy, nhạc chế, chày cối, karaoke, tăm xỉa răng và những thứ khác.  Bổn blog có duyên đọc được tập tản văn trước khi nó ra lò, và vì cả nể [cho nên sự dở dang*] nhà sản xuất nên liều mình như chẳng có múa đôi lời giới thiệu sách của bạn. Chẳng may tác giả có không hài lòng chỗ nào cũng xin lượng thứ:)

Tản văn của một người đọc sách

Trong một thế giới ngày càng bị xô lệch bởi internet và các phương tiện nghe nhìn, sự thất thế của sách thể hiện rõ ngay trên… các trang báo! Trong số hàng trăm đầu báo ngày, tuần, tháng trên cả nước, không quá nhiều tờ dành đất và dành sự chăm chút cho sách như Sài Gòn Tiếp Thị - một trong hiếm hoi báo có mục điểm sách nghiêm túc và đầy đặn. Người chủ lực đằng sau nỗ lực đáng quý ấy là tác giả của tập tản văn ta đang cầm trên tay - Nguyễn Vĩnh Nguyên.

Gần như đều đặn hàng tuần, ta đều thấy Nguyễn Vĩnh Nguyên xông pha giữa thế giới sách: khi là vài mẩu tin sách, khi là bài phỏng vấn một tác giả hay dịch giả của một cuốn sách mới ra lò. Nhưng thường hơn cả là các bài điểm sách - rất nhiều trong số đó là bài viết về các cuốn sách nặng ký cả về nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, như Vũ trụ của Carl Sagan, Đường sống của Lev Tolstoy hay Adolf Hitler - Chân dung một trùm phát xít của John Toland.  Để viết từng ấy bài điểm sách, hẳn nhiên Nguyễn Vĩnh Nguyên đã đọc rất nhiều, trải rộng qua nhiều lĩnh vực văn học, văn hóa, lịch sử, địa lý .v.v.

Vì sao lại nói tới một vai trò khác của Nguyên trong lời giới thiệu tập tản văn này? Là vì, cầm tập sách này trên tay - nói chính xác là tiếp xúc với bản thảo của tập sách này trên máy tính - và đọc qua, ấn tượng đầu tiên của người viết bài này là, đây là văn của một người đọc sách rất nhiều - và là dạng đọc có gạch chân, bôi vàng, ghi chú, chứ không phải đọc qua loa. Trong hai mươi lăm bài tản văn trong tập, gần như bài nào Nguyên cũng trích dẫn một cuốn sách nào đó - cho dù đó là khi Nguyên khảo sát cái “tư duy mặt bằng” của người Việt, hay khi anh bình luận truyền thống cà phê quán cóc của dân Sài thành, hay làm một cuộc trò chuyện trên yên xe máy. Các trích dẫn ấy, với một liều lượng vừa phải: không quá nhiều đến nỗi làm bạn đọc hoa mắt, không quá ít để có thể bị rơi vào cảnh vô tình mượn ý người khác, đã mang đến cho tản văn của Nguyễn Vĩnh Nguyên một chút riêng. Chút riêng ấy, thiết nghĩ, là điều quan trọng, nhất là trong thời đại mà hầu như ai cũng có thể viết “tản văn” dưới dạng note trên Facebook hoặc entry trên blog.

Với cái nền đọc vững vàng đó, Nguyễn Vĩnh Nguyên, qua các bài viết trong tập này, đã làm một cuộc khảo sát đời sống văn hóa Việt hiện đại với nhiều phát hiện khá thú vị. Ở quán karaoke, Nguyên nhìn thấy người ta ghé sát vào tai nhau để nói chuyện vì âm lượng quá to cũng là một cách để hóa giải mâu thuẫn (bài “Karaoke, văn và cảnh”).  Lý giải cho “nhạc chế”, Nguyên lần ngược về những ngày đầu tân nhạc và trích dẫn bài “Bài ta theo điệu Tây” của Phạm Duy để chứng minh rằng “nhạc chế” ngày nay, ví dụ bài rất nổi tiếng “ Hà Nội mùa này phố cũng như sông” nhại theo “ Hà Nội mùa này vắng những cơn mưa” là có truyền thống!  Hay ở một bài khác, “Người Việt ngậm tăm”, Nguyên dẫn cả Xa lộ từ điển trên mạng lẫn Freud để truy tận gốc thói quen ngậm tăm của người Việt. 

Chỗ này chỗ khác, người đọc có thể đồng ý hay không đồng ý với Nguyễn Vĩnh Nguyên trong cách anh lý giải, luận bàn văn hóa Việt của thời hiện đại. Tuy nhiên, một điều có thể chắc chắn rằng, những bài viết trong tập sách này sẽ mang lại cho người đọc những giây phút thú vị.

Sài Gòn 24/11/2012
LVT

(LVT tức Lâm Vũ Thao chứ không phải Lâm Văn Thao. Đã viết tắt tên rồi mà bị một số người đổi tên cho nên phải đành "nói lại cho rõ":)


* Thơ Hồ Xuân Hương:
Cả nể cho nên sự dở dang
Nỗi niềm chàng có biết chăng chàng
Duyên thiên chưa thấy nhô đầu dọc
Phận liễu sao đà nẩy nét ngang



Wednesday, 12 December 2012

Trái tim bạc nhược - bức tranh ghép về cuộc đời


Bạn có một bí mật? Tốt. Lời khuyên dành cho bạn là đừng chia sẻ điều đó với bất kỳ ai, kể cả, và nhất là, cho những người bạn yêu thương nhất. Hãy giữ nó lại cho riêng mình, vì chẳng thể lường trước được hiểm nguy nào có thể xảy ra khi bí mật đó được tiết lộ. Thật ra, đây là lời khuyên của một ông bố dành cho cậu con trai mới lấy vợ. Ông bố là Ranz, và cậu con trai là Juan, hai nhân vật trong cuốn tiểu thuyết Trái tim bạc nhược của nhà văn Tây Ban Nha Javier Marías (Lê Xuân Quỳnh dịch, Bách Việt và NXB Phụ Nữ 2010).

Trái tim bạc nhược mở đầu bằng một vụ tự sát trong phòng tắm của một cô gái vừa mới đi hưởng tuần trăng mật trở về - cô gái ấy là vợ thứ hai của Ranz và là bác gái của Juan. Ngay kế đó, thời gian của chuyện kể nhảy hơn bốn mươi năm, đến cuộc đàm thoại giữa hai vị lãnh đạo cấp cao của Tây Ban Nha và Anh - cuộc đàm thoại mà nhờ đó Juan, với tư cách người phiên dịch, quen với Louisa, người sau này trở thành vợ anh. Từ thời điểm đó, thời gian của câu chuyện, qua lời kể của Juan, liên tục xáo trộn, xen kẽ giữa những chuyến đi của Juan. Đến gần cuối sách, Juan mới tìm hiểu được bí mật về cái chết bác gái - và từ đó soi rọi vào đời sống hôn nhân của chính mình.

Với cấu trúc như thế, Trái tim bạc nhược có dáng vẻ của một bức collage - một bức tranh ghép thành từ nhiều bức tranh nhỏ hơn, đính lại với nhau bằng một số chi tiết. Một trong những chi tiết đó là hình ảnh Juan gẩy tàn thuốc lên tấm khăn trải giường mà vợ anh đang nằm. Bố Juan, tức Ranz, cũng đã làm tương tự như thế với người vợ đầu tiên của mình mà hậu quả của hành vi đó cực cùng khốc liệt, không chỉ ở thời điểm hành vi đó diễn ra. Một hình ảnh trở đi trở lại khác ở nhiều chỗ khác nhau trong tác phẩm đó là hình ảnh chỗ dựa: “chúng ta chỉ thật sự cảm thấy có chỗ dựa lưng khi có người khác ở phía sau mình.” Những đoạn viết về chiếc gối trong đời sống vợ chồng cũng có tác dụng đính kết tương tự.

 Trái tim bạc nhược đầy ắp những quan sát tinh tế đến nỗi ta có cảm giác tác giả chẳng bao giờ bị cuộc sống cuốn trôi, rằng cuộc đời tuy có xôn xao đến thế nào chăng nữa thì tác giả vẫn giữ một sự tỉnh táo, một khoảng cách cần thiết để rút ra những đánh giá, nhận xét lạnh lùng và đau đớn nhất. Ở một chương gần đầu cuốn sách, khi nhắc đến những người đến chật quảng trường lớn để tung hô Franco, nhà độc tài đã có công làm cho Tây Ban Nha trở thành một trong những quốc gia lạc hậu nhất châu Âu, Javier Marías cho nhân vật của mình nhận xét rằng những người ấy thực sự yêu mến Franco. Tại sao? “Bởi vì trước đây, suốt mấy chục năm họ đã bị bắt buộc làm việc đó. Yêu mến cũng là một thói quen mà.” Ở một đoạn khác, Javier Marías bình luận về trí tưởng tượng: “Có trí tưởng tượng sẽ tránh được nhiều tai ương, ai tự tưởng tượng ra cái chết của bản thân thì sẽ ít khi tự sát, ai hình dung ra cái chết của người khác thì hiếm khi trở thành kẻ giết người...” Quả đúng như thế.

Có thể nói, Trái tim bạc nhược là một tiểu thuyết về những điều bí mật, nhưng cũng có thể nói đây là một tiểu thuyết về đời sống hôn nhân, là một truyện vụ án, là một cuốn sách mang những ẩn ý về chính trị. Trên hết, đây là một tiểu thuyết về cuộc đời. Dĩ nhiên, đây là một mệnh đề mơ hồ, mang tính “ba phải”, vì bất cứ tiểu thuyết nào, nếu thực sự là tiểu thuyết, cũng đều là cuốn sách về cuộc đời. Sự khác biệt chỉ nằm ở chỗ hời hợt hay sâu sắc, nhàm chán hay giàu tính khám phá - tương tự như danh xưng “người đàn bà hát” vốn chỉ dành cho một số rất hiếm hoi phụ nữ lấy hát làm lẽ sống.

Trái tim bạc nhược đã đoạt nhiều giải thưởng quốc tế, trong đó có giải thưởng rất uy tín IMPAC Dublin - giải thưởng từng được trao cho các tác phẩm như Tên tôi là đỏ của Orhan Pamuk hay Hạt cơ bản của Houellebecq  - vào năm 1997. Trái tim bạc nhược nói riêng cũng như Javier Marías nói chung xứng đáng được độc giả  Việt Nam tìm đọc nhiều hơn.

                                                                                           

Saturday, 8 December 2012

Tùng Dương thỏa hiệp hát tình ca


Trong đêm diễn của mình tại Nhà hát Bến Thành, Tùng Dương có kể anh nhận được thư của một “crazy fan” 65 tuổi, nói rằng đại ý rất thích Tùng Dương nhưng chỉ những khi anh hát những bản tình ca dịu ngọt, chứ những khi anh hát những bài “lên đồng” thì chịu thua. Ắt hẳn, Tùng Dương đã nghe được nhiều nhận xét tương tự như thế, nên anh quyết định làm một show diễn có tên là Tùng Dương hát tình ca; nhưng ắt hẳn, anh cũng biết đâu là thế mạnh của mình, nên rốt cuộc đêm nhạc của anh là một sự thỏa hiệp.

Anh chia đêm nhạc của mình ra thành hai phần: phần đầu tình ca với các ca khúc của Phạm Duy, Trịnh Công Sơn, Ngô Thụy Miên, Lam Phương, Nguyễn Văn Tý.v.v; và phần hai là những ca khúc mà anh tự gọi là “lên đồng”. Ở  phần đầu, khó mà chê là Tùng Dương hát tồi, nhưng rõ ràng cảm xúc anh mang tới cho người nghe là quá ít. Những ca khúc anh trình bày, như Nhìn những mùa thu đi, Mùa thu cho em, Dư âm, Một mình .v.v đều là những ca khúc từng rất nhiều người hát, và cũng nhiều người đã để lại tên tuổi của mình với những ca khúc ấy mà Tùng Dương trong nỗ lực chiều lòng một bộ phận người nghe đã không mang lại điều gì mới mẻ hơn. Thành công nhất trong phần này có lẽ là bài Ngậm ngùi (nhạc Phạm Duy, thơ Huy Cận) cũng là bài mà Tùng Dương “để sổng” một chút chất quái lẫn vào.

Có cảm giác với những bản tình ca, đặc biệt với những sáng tác trước 75, Tùng Dương đã phải khổ sở để ghìm giọng hát luôn có khuynh hướng bất kham của mình vào khuôn khổ. Sang phần hai, được tháo tung các ràng buộc, Tùng Dương mới như cá trở về với nước, tự do tung tẩy với những bài hát đúng chất của mình. Cái cách anh tung tăng khắp sàn diễn với Chiếc khăn piêu (Doãn Nho), hay ngẫu hứng không nhạc đệm với Trên đỉnh phù vân (Phó Đức Phương), hay nhập đồng với Mưa bay tháp cổ cho thấy điều đó. Ở phần này, Tùng Dương mới lại là Tùng Dương với những bài hát làm nên tên tuổi, bản sắc của anh, một Tùng Dương từng chứng tỏ khả năng đóng đinh tên mình lên những ca khúc như Ôi quê tôi (mà đàn chị Thanh Lam hát cũng không qua nổi anh), hay Quê nhà - ca khúc mà một ca sĩ gần như lúc nào cũng tinh tế là Trần Thu Hà cũng không thể nào làm người nghe rợn da gà như Tùng Dương. Với những bài này, chẳng những Tùng Dương hát phiêu, quái, bốc hơn, mà giao lưu với khán giả cũng tốt hơn và nói năng cũng tự nhiên hơn.

Chương trình của Tùng Dương còn có sự góp mặt của Nguyên Thảo và Thanh Lam. Nguyên Thảo mang đến chút tươi tắn cho bài Mùa thu cho em (Ngô Thụy Miên - song ca với Tùng Dương), nhưng khi hát Đưa em tìm động hoa vàng (Phạm Duy) thì cô chỉ chứng tỏ mỗi một điều là cô trả bài tròn trịa (đây là lối nói giảm khinh cho “hát chán không thể tả”). Về phần Thanh Lam, tuy chưa bao giờ đẳng cấp của chị bị nghi ngờ, nhưng rõ là cần có ai đó bảo chị rằng hát to không nhất thiết đồng nghĩa với hát hay. Với Chiếc lá cuối cùng của Tuấn Khanh hay Nửa hồn thương đau của Phạm Đình Chương, quát tháo ầm ầm trên sâu khấu như thế rõ ràng không phải cách tốt nhất diễn tả tình cảm của bài hát.

Saturday, 1 December 2012

Về bản dịch Tortilla Flat


Đến giờ này thì Thị trấn Tortilla Flat đã đến tay người đọc (tất nhiên, nếu và chỉ nếu người đọc đã mua, hay bằng cách khác có được, cuốn sách).  Đây là cuốn sách thứ hai, hoặc có thể là thứ ba:), mà tôi tham gia làm trong năm. Một số bạn thắc mắc làm thế nào tôi có thể dịch được hai (hoặc ba) cuốn trong một năm. Thật ra, Em làm ơn làm ơn im đi, được không? dịch xong năm kia, còn Thị trấn Tortilla Flat đúng là hoàn thành trong năm nay, từ khi Phan Việt liên hệ với tôi đề nghị dịch cuốn này cho đến lúc ra sách là sáu tháng, một quãng thời gian kỷ lục nếu biết hiện tại nhiều dịch giả kêu trời vì sách dịch xong hai, ba năm rồi mà chưa được in.

Nếu có gì tôi có thể tự hào thì đó là khả năng làm việc theo đúng kế hoạch. Khác với Raymond Carver, một tác giả tôi theo dõi từ lâu, tôi chưa thực sự biết nhiều về John Steinbeck, ngoại trừ Đồng cỏ nhà trờiChùm nho phẫn nộ đọc từ xa xưa. Vì vậy, trước khi nhận dịch Tortilla Flat, việc đầu tiên là tôi phải đọc một số tác phẩm của Steinbeck cả trong nguyên bản lẫn bản dịch tiếng Việt. Sau khi đã đọc, thích và đồng ý dịch Tortilla Flat, tôi có bốn tháng để hoàn thành bản dịch. Nguyên bản cuốn này có 180 trang. Tôi nhẩm tính nếu tôi dịch mỗi ngày hai trang, thì trong ba tháng tôi sẽ xong bản dịch thô, trong một tháng còn lại tôi sẽ dành hai mươi ngày cho việc chỉnh sửa, đối chiếu bản tiếng Anh từng dòng một, và mười ngày cuối cùng để hoàn thiện bản dịch. Do có những ngày không làm được trang nào, hoặc có ngày chỉ làm được nửa trang, tôi tăng tốc vào những ngày cuối tuần. Rốt cuộc tôi hoàn thành bản dịch thô trong vòng hai tháng hai mươi ngày. Nhờ vậy, tôi có thêm mười ngày cho vòng hai, tức vòng đối chiếu, sửa chữa từng dòng một.  Xong vòng hai, bản dịch có thể nói xong được 90%. Khi đó, tôi đã phải gửi bản này cho NXB để vẽ bìa, đồng thời, tôi gửi một số chương cho một số bạn bè đọc góp ý.  Mười ngày cuối cùng, tôi chỉ sửa sang bản dịch tiếng Việt, và chỉ tham chiếu lại bản tiếng Anh khi có nghi ngờ. Tôi học cách làm việc này từ Jay Rubin, dịch giả tiếng Anh của Murakami. Tôi gửi bản thảo cho Tịnh Thủy của NXB Trẻ vào 11 h đêm ngày cuối cùng trong thời hạn.

Tôi may mắn đã có những người bạn trả lời câu hỏi và góp ý cho tôi. Một trong những người đọc và góp ý bản dịch là NNT. Chị đã có những nhận xét thẳng thừng về tiếng Việt của tôi, nhất là những chỗ dùng “cái”, “và”,  “mà”, .v.v.., thỉnh thoảng kêu lên "chỗ này đọc hiểu chết liền!" Khi sửa lần chót, tôi đã dùng chức năng tìm kiếm của Word để đặc biệt tầm soát những từ này, cân nhắc xem chỗ nào thực sự cần, chỗ nào có thể bỏ hoặc thay bằng từ khác.  Bên cạnh biên tập viên Tịnh Thủy của NXB Trẻ, chính Phan Việt là người biên tập thứ hai và thực hiện một số chỉnh sửa quan trọng cho bản cuối cùng, nhưng Phan Việt không đứng tên biên tập. Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến một số bạn bè khác đã góp ý về tiếng Việt cũng như giải bí cho tôi về tiếng Anh và tiếng… Tây Ban Nha: đó là chị S., bạn Q., bạn BA., anh CĐ. Dịch thuật với tôi là một cuộc chơi và các bạn đã giúp cuộc chơi của tôi được trọn vẹn nhất trong khả năng của tôi.

Với cuốn sách này, tôi đặc biệt thích bìa - tôi nghĩ bìa sách làm rất có chất. Còn có chút gì lo ngại, đó là giá bìa. Tôi nghĩ 95.000 đồng là một giá hơi cao. Tuy nhiên, nếu bạn ở Sài Gòn, bạn có thể đến thẳng NXB Trẻ vào mỗi cuối tuần (chính xác là mỗi thứ bảy) để mua với giá giảm 20%.

Friday, 30 November 2012

Mười hai


Đã sang tháng mười hai mà Sài Gòn hãy còn rất nóng. Đầu giờ sáng, còn có tí hơi mát, nhưng sang quãng mười một giờ trưa thì nắng gắt gao, không khác những ngày hè là mấy. Thời tiết như thế, chẳng biết có thể gọi là mùa Giáng sinh đã đến hay chưa. Dù sao, cứ đến này giờ trong năm, trong người vẫn không khỏi chút nôn nao. Có lẽ, tháng cuối cùng của năm, đi đâu, làm gì vẫn không tránh khỏi cái cảm giác ngoái đầu nhìn lại, dẫu trời vẫn nóng và chẳng còn cây cầu nào dẫn đến mùa đông.

Quãng hơn hai tháng qua, tôi có đến bốn hay năm chuyến đi. Đi là để về, hay nói khác hơn, đi mà chỉ muốn về. Mỗi lúc về tới Tân Sơn Nhất, giây phút ngồi trên taxi bắt đầu ra khỏi sân bay, ngắm những bảng hiệu hai bên đường qua cửa sổ xe là tôi cảm thấy dễ chịu. Tôi nhận thấy bảng hiệu các cửa hàng ở Sài Gòn thường sử dụng màu xanh và trắng, hoặc trắng và đỏ; trong khi đó bảng hiệu các cửa hàng Hà Nội hay dùng màu đỏ và vàng. Tôi cũng nhận thấy tài xế taxi Sài Gòn bây giờ đã bớt sử dụng còi rất nhiều, và đường phố Sài Gòn nói chung cũng bớt tiếng còi. Có lẽ dần dần mọi người cũng nhận ra rằng bóp còi chả giải quyết được gì, cứ điềm tĩnh mà đi, thế nào cũng tới. Cảm giác dễ chịu có lẽ còn vì biết rằng mình sắp về tới nhà.

Tôi mong trời sớm lạnh, để tôi còn dựng cây thông Noel lên.

Thursday, 22 November 2012

Enright nói về truyện Fat của Carver

"Fat" ("Béo") là truyện đầu tiên trong tập Em làm ơn im đi, được không? Nhiều người không thích truyện này lắm. Bản thân tôi cũng không thích truyện này bằng những truyện khác trong tập, ví dụ, "Có phải anh là bác sĩ?", "Họ đâu phải chồng em", hay "Còn cái này thì sao?" Tuy nhiên, Anne Enright, tác giả của Họp mặt, lại rất thích truyện này. Bà nói về truyện này như sau:


“Béo” là một ví dụ tuyệt  vời về một truyện ngắn chẳng cần phải làm gì nhiều nhặng để gây ra tác động- có thể nói là miệng vết thương rất nhỏ nhưng hậu quả thì thật là chết người. Như nhiều truyện khác của Raymond Carver, truyện này có vẻ rất đơn giản. Một cô hầu bàn không được nêu tên kể cho bạn mình, Rita, chuyện cô phục vụ cho một ông khách hàng béo ú. Cô thích ông ta, bất chấp vòng bụng của ông ấy. Cô thích phục vụ cho ông. Mối quan hệ của họ, mặc dù bình thường, ngắn ngủi, và trịnh trọng, lại khá dịu dàng - và, như một chuyện tình, nó diễn ra bất chấp sự phản đối của phần còn lại của thế giới. Cái tình yêu nho nhỏ mà cô hầu bàn cảm nhận được - khoảnh khắc cảm thông dành cho ông khách béo - trở nên thật lạ lùng khi sau đó vào buổi tối, nằm trên giường với Rudy,bạn trai của mình, cô hầu bàn mơ mòng về  một thay đổi  cồn cào, đầy hy vọng.

Tôi thường yêu cầu sinh viên đọc truyện “Béo” bởi vì dường như truyện này cũng nói về một truyện [ngắn] là như thế nào. Một truyện [ngắn] là điều gì đó được kể lại - như cô hầu bàn kể cho cô bạn Rita của mình về ông khách béo - đó là một điều gì thực sự phải được nói ra. Nhưng mặc dù ta cảm nhận được sức mạnh và âm vang của nó, thường rất khó nói được rằng một truyện [ngắn] có ý nghĩa gì. Có lẽ ta chỉ có thể nói  rằng một truyện ngắn là một khoảnh khắc của đời sống; và rằng, sau khoảnh khắc ấy, ta nhận ra một điều gì đó đã thay đổi.


Monday, 19 November 2012

Thị trấn Tortilla Flat - Lời giới thiệu của Phan Việt



Cuốn Thị trấn Tortilla Flat của John Steinbeck vừa mới ra mắt trong bộ ba cuốn  mới nhất của tủ sách Cánh cửa mở rộng có hai lời giới thiệu, một của Thomas Fensch và một của Phan Việt. Sau đây là lời giới thiệu của Phan Việt.


Thị trấn Tortilla Flat

John Steinbeck từng nói "Không ai thực sự biết về người khác. Điều tốt nhất mà một người có thể làm là mặc định rằng những người khác cũng giống anh ta".
Nếu đúng như vậy thì khi đọc Thị trấn Tortilla Flat của Steinbeck, bạn phải mặc định rằng, giống như Danny của câu chuyện này, nếu bạn được thừa kế hai cái nhà, bạn sẽ để một căn bốc cháy; với căn còn lại, bạn để ngỏ cho các bạn bè, huynh đệ của bạn tới sống cùng bởi vì họ đã từng chia rượu với bạn, đã cùng bạn ăn cắp gà và bánh mỳ, đã cùng bạn tán tỉnh các cô gái, đã ngủ trong rừng thông, nhặt đồ trên bãi biển, đánh lộn, và vào tù. Dĩ nhiên là cả chó của họ cũng sẽ được đến ở – toàn bộ năm con. Hàng ngày, trong căn nhà chỉ toàn tình huynh đệ ấy, bạn và các huynh đệ của bạn sẽ thức dậy vào buổi trưa, khi mặt trời đã lên cao và rọi qua những tán lá thông vào nhà; và rồi trong lúc bánh xe thế gian tiếp tục lướt qua cái thị trấn nhỏ miền duyên hải California, bạn và các huynh đệ của bạn tiếp tục những cuộc phiêu lưu tình ái, những việc thiện tâm vì những người cùng quẫn, một chút đánh lộn đây đó, thi thoảng cũng tích cóp mua một cái chân nến vàng để dâng Thánh Francis, nhưng quan trọng nhất là tìm cách xoay sở để có thể tới quán lão Torrelli mua một ga-lông rượu mà say sưa.
Đấy là một cuộc sống từ chối gần như tất cả các phép tắc của thế giới hiện đại; thậm chí cả các tiện nghi của nó. Nhưng nếu bạn là một “paisano chân chính” như Danny hay những người bạn của chàng thì bạn sẽ không bao giờ nghi ngờ sự tuyệt vời của cuộc sống này.
Thị trấn Tortilla Flat của John Steinbeck là câu chuyện sinh động về các “Chí Phèo” kiểu Mỹ ở một cái “làng Vũ Đại” kiểu Mỹ. Một câu chuyện sẽ khiến người đọc bật cười nhiều lần vì sự hài hước và thông minh rất “Chí Phèo” của các paisano Mỹ, đồng thời không khỏi ngậm ngùi cho họ. Thị trấn Tortilla Flat đánh dấu sự cảm thông và thấu hiểu tuyệt vời của Steinbeck với người nông dân (và con người nói chung), cũng như những dự cảm của ông về số phận họ trong những vận hành lớn của xã hội và trong cái tổng thể lớn lao, bí ẩn gọi là “đời người”. Đây là một cuốn sách sâu sắc bên dưới cái vỏ giản đơn dễ đánh lừa người đọc – một cuốn sách mà về nhiều mặt còn đáng yêu hơn những tác phẩm kinh điển, đồ sộ của Steinbeck như Chùm nho nổi giận, Phía đông vườn địa đàng.
Tủ sách Cánh cửa mở rộng trân trọng giới thiệu Thị trấn Tortilla Flat qua bản dịch của Lâm Vũ Thao.

Thursday, 8 November 2012

Tương lai kinh tế Việt Nam...

...có trở nên tươi sáng hơn hay không, điều đó tùy thuộc vào bạn.  Hãy mua cuốn sách này ngay khi nó ra lò để đóng góp cho nền kinh tế Việt Nam:))




Friday, 2 November 2012

Hiện hữu tiếng cười


Thế là sau các cuộc phiêu lưu cùng một chàng nam tước suốt đời chân không chạm đất (Nam tước trên cây), một vị tử tước thân chia làm hai nửa (Tử tước chẻ đôi), người đọc Việt Nam lại có dịp diện kiến một nhân vật kỳ lạ không kém - một hiệp sĩ không hiện hữu trong tác phẩm cùng tên của nhà văn Ý Italo Calvino.  Hiệp sĩ không hiện hữu là cuốn thứ ba và cuốn cuối cùng trong bộ sách Tổ tiên của chúng ta của Calvino được dịch ra tiếng Việt, vẫn do Vũ Ngọc Thăng. Với cuốn sách này, một lần nữa, người đọc Việt Nam có dịp được trở về một châu Âu thời trung cổ, để đắm mình trong không khí huyền hoặc của một thứ văn chương uyên nguyên và khinh khoái.

Tương tự như hai tác phẩm trước, Hiệp sĩ không hiện hữu được xây dựng trên một ý tưởng độc đáo: trong đoàn quân của hoàng đế Charlemagne lừng danh, có một vị hiệp sĩ hiện diện nhưng không hiện hữu. Dưới bộ áo giáp trắng toát lúc nào cũng lấp lánh của vị hiệp sĩ  này đơn giản là chẳng có một thân xác nào. Để cho sự thể thêm trớ trêu, hiệp sĩ được nhà vua tặng cho một người hầu  luôn tưởng mình là một cái gì đó khác: vịt, ếch, cá, dê hay thậm chí phó-mát, vì một lẽ anh này, ngược lại với hiệp sĩ, hiện hữu nhưng không hề hiện diện.

Một người đọc quan tâm đến nghệ thuật tiểu thuyết hẳn sẽ nhặt ra được từ cuốn này (cũng như từ Nếu đêm đông có người lữ khách) những quan niệm về tiểu thuyết mà Calvino lồng ghép vào thông qua nhân vật nữ tu viết truyện. Nếu không quan tâm đến nghệ thuật tiểu thuyết, thì có thể suy ngẫm về hai mặt đối lập hiện hữu - hiện diện. (Gần cuối sách, có nhân vật nói: “ Ngay chuyện hiện hữu cũng phải học”. Quả là thế, nếu như muốn hiện hữu  là một việc có ý nghĩa. Bằng không, hiện hữu đấy mà cũng như không.) Còn nếu không quan tâm đến nghệ thuật tiểu thuyết cũng không ưa suy ngẫm, có thể đọc Hiệp sĩ không hiện hữu đơn giản để thưởng thức nụ cười mang nhãn hiệu Calvino.

Xuyên suốt tiểu thuyết người đọc luôn nhìn thấy thấp thoáng nụ cười của Calvino - một nụ cười vừa giễu cợt nhẹ nhõm vừa mang dáng vẻ thông thái của một nhà hiền triết. Có thể nêu ra hai xen điển hình cho kiểu cười này: Xen thứ nhất, trong trận đấu giữa quân Ki-tô giáo và quân Hồi giáo, một tay lính Hồi giáo yêu cầu đối thủ phải tránh đường nếu không anh ta không thể tiến lên theo đúng kế hoạch, và để mình có thể tiến lên theo kế hoạch được giao anh ta sẵn lòng chỉ cho kẻ địch thủ lĩnh mình đang đứng ở đâu. Xen thứ hai, mô tả đêm yêu đương giữa chàng hiệp sĩ không hiện hữu và một bà quả phụ chủ một lâu đài. Trong khi bà chủ lâu đài đã rạo rực rũ bỏ tiết hạnh khả phong, thì chàng hiệp sĩ của chúng ta vượt qua thử thách ấy (phải nhớ rằng chàng không có thân xác) bằng cách luôn mồm nghị luận về tình yêu, về quy cách củi trong lò sửa, về nghệ thuật trải giường, về thuật búi tóc cài trâm, và bàn về ánh trăng… cho hết đêm.

Một tiểu thuyết chiều người đọc đến thế, còn mong gì hơn!

Ảnh: Chỉ có ảnh chụp chung, không có ảnh chụp riêng!




Thursday, 1 November 2012

Steinbeck trọn bộ

Đây là gần trọn bộ Steinbeck đã được dịch ra tiếng Việt. Tuy nhiên, bộ này không phải của tôi mà của Kim giáo chủ thần thông quảng đại - vua Nobel ở Việt Nam.



Ngoài những cuốn quá quen tên, có một số cuốn khác không nói thì rất khó biết được dịch từ cuốn gì. Chẳng hạn, Tình người chính là Tortilla Flat (như đã nói, cuốn này sắp có bản dịch mới). Chuyến xe định mệnhThe Wayward Bus mà bản dịch sau này của Phạm Viêm Phương là Rời nẻo đường quen. Cái chết của chú ngựa con ắt hẳn là Red Pony. Còn Những ngày tranh đấu, hỏi khổ chủ, khổ chủ chưa tra  ra nhưng tôi đoán là In Doubious Battle (cập nhật: đã xác định là dịch từ The Moon is Down).


Và đây là cái mẻ kho mà Kim giáo chủ còn thiếu:)



Tuesday, 30 October 2012

Một đá hai chim

Chuyến đi Hà Nội chớp nhoáng này không đủ thời gian để ghé Đinh Lễ Nguyễn Xí. Tuy vậy, vẫn tha được một số cuốn về, nhờ lòng hảo tâm của một số nhân sĩ Hà Nội. Một trong số đó là cuốn  Bách khoa thư những người cứng đầu, kẻ phản kháng, nhà cách mạng do một người rất quen tên dịch. Sách bìa cứng, trình bày đẹp, do Kim Đồng ấn hành.




Lật vài trang, thấy có bài về thánh François xứ Assise. Thánh François đi từ Pháp sang Anh sẽ trở thành thánh Francis, sang tới Tây Ban Nha sẽ trở thành thánh Francisco (San Francisco), trở về bản quán Ý Đại Lợi sẽ thành gì chưa tra ra:). Trong bài về thánh François/Francis/Francisco trong cuốn này, có nhắc đến chi tiết khi còn trẻ François đã đọc "các tiểu thuyết về Arthur, hiệp sĩ Bàn Tròn" và có "ấn tượng mạnh với những phẩm chất của các chiến binh trong truyện ấy".

Ắt đây là lý do mà thánh Francis xuất hiện trong cuốn tiểu thuyết Thị trấn Tortilla Flat của John  Steinbeck, bản dịch tiếng Việt sắp được [  ] phát hành, do một người hơi hơi quen tên khác dịch. Steinbeck lấy cảm hứng và sử dụng motif vua Arthur và các hiệp sĩ bàn tròn để viết Thị trấn Tortilla Flat, cuốn tiểu thuyết viết về các chàng paisano nát rượu (paisano: người mang dòng máu lai giữa Tây Ban Nha, Mexico, người da đỏ và dòng máu da trắng) - các chàng paisano này uống rượu đến mức bác Đàm Hà Phú chắc phải kêu bằng sư phụ:). Cuốn Bách khoa thư... còn nhắc tới chuyện thánh François nói chuyện với chim và khuyên răn chó sói. Chi tiết này cũng được nhắc tới trong Thị trấn Tortilla Flat  - một cuốn tiểu thuyết hết sức hài hước mà chẳng bao lâu nữa bản dịch tiếng Việt sẽ ra mắt:)) Nghe đâu là trong tháng 11.

Chiêu thức này chính là chiêu Nhất tiễn hạ song điêu:)

Friday, 26 October 2012

Vài cuốn mới

1. Dịch thuật và tự do của Hồ Đắc Túc - mới tóm được hôm qua ở Fahasa Sài Gòn. Tác giả là tiến sĩ ngôn ngữ học đại học Monash, giảng dạy về dịch thuật ở Đại học Deakin. Cuốn này điểm qua các lý thuyết dịch thuật từ Tây sang Đông và bàn về phương pháp dịch văn chương, báo chí, thính thị và chuyên ngành. Sách trình bày đẹp, rõ ràng, mạch lạc dễ hiểu, gần giống như một tập bài giảng cho sinh viên ngành dịch thuật. Cá nhân tôi thấy rất bổ ích. Sách do Đại học Hoa Sen phối hợp với Phương Nam và NXB Hồng Đức phát hành.



2. Gái quê của Hàn Mặc Tử do Phương Nam ấn hành. Đây là văn bản in theo tư liệu của Hoàng Thị Kim Cúc, đánh máy lại từ bản đánh máy của nhà thơ Phan Văn Dật; ngoài phần thơ còn có các bài tưởng niệm của Đặng Tiến và một số tư liệu khác. Sách in đẹp và đó là lý do tôi mua cuốn này.


3. Sự nghèo nàn của thuyết sử luận của Karl Popper, Chu Lan Đình dịch, cuối cùng cũng vào được Sài Gòn. Sách thuộc loại phải mua nhưng từ từ đọc:)


4. Và cuối cùng là một cuốn sách cũ nhưng mới có được, đó là tập truyện ngắn của When I Was Mortal của Javier Marias, nhà văn Tây Ban Nha đã có vài cuốn in ở Việt Nam.  Tập này nhiều truyện rất thú vị, lại tương đối ngắn, khi nào quỡn sẽ dịch vài đường hầu các bạn:)




Thursday, 18 October 2012

Họ đã nói về tiểu thuyết

"Họ" ở đây không phải là các nhà văn, mà là nhân vật của các nhà văn. Chẳng hạn, hãy đọc đoạn sau đây do nhân vật biên tập viên Komatsu trong 1Q84 nói, để biết trong 1Q84 không phải chỉ có tinh hoàn như có kẻ độc mồm nào từng bảo 1Q84 là "Tinh hoàn truyện":)

"Người đời đa phần không hiểu được giá trị thực sự của tiểu thuyết, nhưng lại không chịu lạc hậu với trào lưu. Hễ thấy có sách được giải trở thành tiêu điểm bàn tán là họ sẽ mua về đọc."

"Tengo à, cậu thử nghĩ xem: bầu trời chỉ có một mặt trăng, độc giả đã thấy không biết  bao nhiêu lần rồi. Phải vậy không? Nhưng trên trời cùng lúc hiện ra hai mặt trăng, cảnh tượng ấy chắc chắn họ chưa tận mắt nhìn thấy bao giờ. Khi cậu miêu tả một thứ gần như tất cả độc giả  đều chưa từng thấy bao giờ trong tiểu thuyết, thì không thể không cố gắng miêu tả cho kỹ lưỡng và chuẩn xác. Chỉ những thứ gần như tất cả độc giả đều từng tận mắt trông thấy mới có thể tỉnh lược, hoặc có thể nói là cần phải tỉnh lược."

Còn đây là lời của nữ tu trong Hiệp sĩ không hiện hữu:

"Nghệ thuật viết truyện là ở chỗ biết rút ra toàn thể phần còn lại của cuộc sống từ cái sự-không-là-gì-cả lĩnh hội được từ nó; nhưng khi trang viết kết thúc, thì cuộc sống lại lên đường, và ta nhận ra rằng những gì mình biết quả là một sự-không-là-gì-cả."

Thursday, 11 October 2012

Văn như Vũ Bão


Nhà văn Vũ Bão khéo chọn bút danh. Tên sao văn vậy, ào ào như bão. Mở ra cuốn sách - tôi đang nói tới cuốn  hồi ký Rễ bèo chân sóng - ngay dòng  đầu tiên đã thấy ông tuệch toạc “Tôi là dân Thái Bình”, rồi đi luôn một đường nhạo chính dân Thái Bình nhà ông, từ chuyện dân Thái Bình cắm cờ trên nóc hầm De Castries (thực ra là “tác phẩm điện ảnh”), tới chuyện dân Thái Bình đi quá giang vào vũ trụ, sang chuyện Thái Bình, Thái trắng, Thái đen, trong ba Thái ấy Thái Bình phá rừng khỏe nhất. Ào ào như thế, ông cuốn ta đi cùng các câu chuyện của mình,  sôi nổi, rất nhiều hài hước, giàu tình cảm, và không ngại ngùng.

Tất nhiên, như  thường lệ, mỗi khi đọc hồi ký, ngoài cái thú vị do bản thân cuốn sách mang lại, còn có sự thú vị đọc nó trong mối liên hệ với với các hồi ký, tư liệu khác về cùng thời kỳ. Một ví dụ nho nhỏ, chẳng hạn nếu liên hệ với Hồi ký Phạm Cao Củng cũng mới được ấn hành trong thời gian gần đây, ta có thể có thêm một chút thông tin về nguồn gốc của chữ “truyện ba xu”.  Theo Phạm Cao Củng, quãng những năm ba mươi ông hay viết các loại truyện chưởng, kiếm hiệp được in thành từng tập nhỏ mười sáu trang, bán với giá ba xu ở các mẹt hàng xén cho dễ bán, và thực tế bán rất chạy; người ta thấy bán chạy nên mới dè bỉu gọi ấy là loại truyện ba xu. Trong Rễ bèo chân sóng, Vũ Bão nhắc lại đúng chi tiết ấy: “Mỗi tuần nhà sách bán một tập giá có ba xu nên loại sách đó được gọi là sách ba xu, các nhà văn viết những loại  sách đó được gọi là văn sĩ ba xu…”. Là người tếu táo, nên Vũ Bão không quên thêm rằng thời bây giờ “các nhà thơ bóp mồm bóp miệng chỉ ra ba triệu đi in thơ rồi đem thơ đi biếu được gọi là nhà thơ ba triệu.” Theo logic này, nhà thơ bỏ năm tỉ để vận động giải Nobel hẳn được gọi là nhà thơ năm tỉ.

Những người có mối quan tâm khác nhau sẽ tìm thấy trong cuốn hồi ký của Vũ Bão những chi tiết thú vị khác nhau - điều đáng nói là số chi tiết ấy khá nhiều, nếu thuật lại cả thì không bàn phím nào chịu xiết, chưa kể sẽ bị nhà sách Phương Nam tố cáo vì tội vi phạm bản quyền còn người đọc blog mà chưa đọc sách sẽ rủa xả bổn blog tội xì poi lờ. Ở đây, chỉ tóm tắt vài ví dụ, cho tròn một entry. Chẳng hạn, một người ưa sưu tầm sách tiền chiến như vua sách VHT hay bí thư đảng ve chai GGX sẽ rất quan tâm đến chi tiết một trong những cuốn sách của Lê Văn Trương in tại Nhà xuất bản Tân Dân trước 1945 thật ra là do con ông, Mạc Lân, viết. Lý do Lê Văn Trương ký tên là để nhận nhuận bút gấp đôi.  Người nào quan tâm đến ruộng ruộng đất đất sẽ thích thú với những trang viết về vai trò của các “đồng chí bạn” trong cải cách ruộng đất ở nước ta, một vấn đề mà Vũ Bão cho là rất tế nhị, liên quan đến quan hệ môi hở răng lạnh, mà ngay cả khi “răng cắn cả vào môi, chúng ta cũng không nhắc đến, lặng lẽ cho qua, coi như không có trong đời.” Còn người nào mê thơ, sẽ  có dịp đọc những câu thơ như thế này “ Đấu thằng đầu sỏ vừa xong/ Gặp kỳ giáp hạt làng Còng gieo neo/ Trong thôn đa số dân nghèo/ Sắn ăn thay bữa, ngô nhiều hơn cơm.” Cho dù đã biết Xuân Diệu có khả năng viết những bài thơ dở đến như Ngói mới, cũng vẫn rất khó tiêu hóa nổi sự thật đây là thơ của ông. Vũ Bão bình luận, đại ý, bài ấy mà ký tên Phạm Thế Hệ (tên thật Vũ Bão) thì đố nhà xuất bản nào dám in!

Vài đường thế thôi, cho quên nỗi thất vọng giải Nobel Văn chương năm nay, còn thì để các bạn đọc. Mua vui cũng được vài canh gà Thọ Xương!




Rễ bèo chân sóng, khuyến mãi đùi
  

Wednesday, 10 October 2012

Trí nhớ suy tàn


Ngày xửa ngày xưa tôi có một trí nhớ cực oách. Đại để, tôi có thể thuộc hàng ngàn bài thơ của nhà thơ thời Thơ Mới, nhớ vanh vách kết quả các trận đấu của một vòng World Cup, thậm chí nhớ ai ghi bàn, và ghi bàn như thế nào v.v. Nhờ trí nhớ này mà tôi làm toán, kể cả đến năm 12, gần như bao giờ cũng 10 điểm, vì bài nào đã giải qua một lần là luôn nhớ cách giải:). Ngày nay,  khi bớt trẻ hơn ngày xưa, trí nhớ tôi suy tàn ít nhiều, thơ thẩn gần như quên hết sạch,  không nhớ năm rồi đội nào vô địch Serie A; tuy nhiên, trong tôi có những thứ không suy tàn lắm. Để cho rõ nghĩa, tránh mọi liên tưởng có tính thời sự, tôi xin nói là có những góc của trí nhớ không suy tàn lắm. Cụ thể, tôi nhớ rõ ai mượn mình cái gì mà không trả, đặc biệt mượn sách.

Ở đây, tôi sẽ không nhắc lại những chuyện như Bố Cu Hưng mượn mình bao nhiêu tiền không trả. Vâng, tôi không xấu xa đến nỗi nhắc lại chuyện Bố Cu Hưng mượn tôi ba mươi ngàn không trả. Vâng, phải biết giữ thể diện cho bạn, nên những chuyện như chuyện Bố Cu Hưng mượn tôi ba mươi ngàn đồng vào năm thứ tư đại học đến giờ vẫn chưa trả, tuyệt đối tôi sẽ không nhắc lại. Ấy nhưng, những chuyện như bạn Minh Trường, vừa mới gặp lại nhau trên FB sau nhiều năm không gặp, mượn tôi cuốn Mưa nguồn của Bùi Giáng, rồi cuốn sách ấy mãi mãi ra đi không bao giờ trở lại, thì tôi nhớ, nhớ lắm, nhớ mãi khôn nguôi. Nỗi nhớ ấy cắt sâu vào da thịt tôi, không biết phải bao nhiêu bia hòa mực nướng mới xóa nhòa. Thực ra, tôi cũng có thể đã quên, nhưng bạn ấy lại thò vào FB, kết bạn với tôi, nên bao nhiêu kỷ niệm lại ùa về, bò ra ngoài khung nhớ, chật chội cả màn hình máy tính. Bài học rút ra cho những ai từng mượn sách của tôi mà không trả, là đừng có kết bạn với tôi trên FB. Vả lại, chỉ tiêu bạn của FB của tôi là 500. Tới mức đó, thì cứ thêm một người là phải bớt một người; thực tế đã là như vậy.

Còn một bạn khác, không tiện nhắc tên, bây giờ phải là tiến sĩ rồi, cũng nhiều năm không gặp, từng mượn tôi cuốn Di cảo thơ Chế Lan Viên để làm luận văn. Ngờ đâu từ ấy bặt tin nhau, bặt luôn tin sách. Hic, hic, để giờ đây lao đao giữa muôn trùng nỗi nhớ tôi mong xiết bao một lần gặp lại để nhìn thật sâu vào mắt người, cầm tay người nếu có thể, và thân ái hỏi: Ê, sao bà không trả sách cho tui?


Tuesday, 9 October 2012

Nobel Văn chương 2012

Sẽ được công bố vào thứ năm tuần này.


Ladbrokes continues to show Haruki Murakami as frontrunner, now at 2:1, trailed by Mo Yan, Alice Munro, and Péter Nádas at 8:1. William Trevor surged this week to 10:1.  Unibet shows Mo Yan in front at 5.3:1, with Murakami in second place at 8:1.  (Theo WWB)

Theo nhà cái Ladbrokes, Haruki Murakami  dẫn đầu bảng cá cược, theo sau là Mạc Ngôn, Alice Munro, Peter Nadas, Willliam Trevor.


Murakami và Mạc Ngôn đã được dịch rất nhiều ở Việt Nam. Tôi vẫn không nghĩ hai vị nảy có thể đoạt giải, nhất là Mạc Ngôn.


Alice Munro - đã có tập truyện Trốn chạy được dịch. Nếu bà đoạt giải, hy vọng tập Trốn chạy sẽ được chú ý hơn. Tới bây giờ hình như chỉ có mỗi một bài review Trốn chạy của Trần Quốc Tân trên một tạp chí xinh xắn ít người biết. Tuy nhiên, nếu Alice Munro đoạt giải, thì có nghĩa là ủy ban chấm giải đã đi ngược lại với ý chí của blogger 5xu.


Peter Nadas - hình như chưa dịch.


William Trevor - hình như cũng chưa dịch cuốn nào nốt.


Trang này  các mọt sách khắp thế giới đang sôi nổi dự đoán. Kadare (tác giả Viên tướng của đạo quân chết), Philip Roth (Người phàm), Kundera, và Ngugi wa Thiong'o  (the River in Between) là những cái tên hay được nhắc tới.



Saturday, 6 October 2012

Thóc mách quần hồng





Sáng  ra khỏi nhà, xin phép vợ cho  đi thóc mách quần hồng. (Bác nào chưa biết thóc mách quần hồng là chi, có thể mở trang 12 cuốn Hiệp sĩ không hiện hữu ra tham khảo.) Kết quả không thóc mách được quần hồng nào, chỉ toàn thóc mách chuyện /sách/, bán được mấy cuốn sách, mua được mấy cuốn sách. Toàn sách với sách.  Trong số mấy cuốn mới rinh về có Lời bộc bạch của một thị dân. Tên tuổi của Marai Sandor là một bảo chứng  cho cuốn sách, nhưng kể cả không thích hay không đọc được Marai Sandor đi chăng nữa, không thể không phải lòng cái bìa - một trong những bìa sách đẹp nhất Nhã Nam từng có. Đây là loại sách vì một cái bìa mà  ta có thể mua nguyên cả một cuốn sách. Tại sao không chứ, khi người ta có thể vì  một lúm đồng tiền mà cưới nguyên một cô vợ. Tuy vậy, mọi so sánh chỉ  có tính chất tương đối, vì có thể mua rất nhiều sách về chất quanh nhà, chứ không thể làm như thế với vợ.

Nói về mua sách, sáng nay có một bạn tỏ ra ngại ngần khi chưa thể thanh toán hết số sách mình đang có. Tất nhiên ấy là một ngại ngần chính đáng. Cách đây năm năm, tôi cũng mang một tâm thế y như vậy, và, để cho sang trọng, có thể nói, y như Walter Benjamin. Trong bài “Unpacking My Library”, Benjamin kể chuyện nhiều năm trời, kệ sách của ông mỗi năm chỉ dày thêm độ vài inch, vì  ông không cho phép thêm vào đó bất cứ một cuốn sách nào chưa được  ông xác nhận “Đã đọc.”  Kệ sách khi đó, với ông, chỉ là kho chứa những cuốn sách đã đọc rồi. Nhưng một ngày đẹp trời, sau khi đi uống cà phê ở Nhã Nam Thư hùng quán về, ông/bà bỗng nhận ra mua sách và đọc sách  không nhất thiết là hai việc liên quan khăng khít với nhau.  Người ta có thể mua một cuốn sách chỉ vì cái bìa, vì muốn trọn bộ tác giả, vì nếu không mua bây giờ có thể ngày mai không còn để mua (trường hợp cuốn Em làm ơn mua đi được không là một ví dụ điển hình), vì một chữ ký thiếu nét, hay cũng có thể, chỉ vì cuốn sách xếp nhầm trang.  Đến lúc đó, như Benjamin đã nói, người ta đã từ chỗ vẩn vơ trên những ngõ hẽm tiến ra đại lộ tích lũy sách.

Và, trong một thời đại khi cơn mưa cũng khước từ sự độc tài, đọc sách không nhất thiết là việc chăm chú đọc từ bìa một đến bìa bốn cuốn sách, không bỏ qua cả một dấu chấm phẩy.  Trong một số trường hợp,  đọc một cuốn sách có thể, và chỉ nên là, đọc tất cả các dấu chấm phẩy trong cuốn sách ấy.  Đọc theo chiều dọc, đã đành, nhưng hãy thử các phương cách khác: Đọc từ sau ra trước, chỉ đọc các chương lẻ, chỉ đọc các cụm từ viết hoa hoặc in nghiêng, đọc năm cuốn sách cùng một lúc, đọc như tra từ điển, đọc như nghịch mạng internet, chỉ đọc những chương viết về các hòn đảo của nước Lào, chỉ đọc nửa trên của các trang, chỉ đọc nửa dưới của các trang, chỉ đọc phần chú thích, chỉ đọc những chỗ tác giả trích dẫn người khác, không đọc gì  khác ngoại trừ gáy sách… Chớ nên giới hạn mình ở bất cứ một khả năng nào. 

Tuesday, 2 October 2012

Trời hết mưa, và cơ hội của đọc


Hôm nay trời đã hết mưa, may quá. Trời mưa, ngồi nhà sến, trong khi bao người lặn lội đúng nghĩa lặn và lội trong mưa, dưới mưa, thực là không phải lắm. Hôm qua làm về, ngang cầu Rạch Chiếc - cầu mới khai trương cách đây hai, ba tháng - thấy  hàng trăm xe dồn dưới chân cầu. Tưởng tai nạn, hóa không phải, mà vì ngập nước, xe chết máy hàng loạt. Mưa tầm tã, mà xe chết máy, thật không vui sướng gì. Làm dân khổ lắm, phải đâu chuyện đùa. Chẳng những khổ, mà còn khó nữa. Hở tí bị mắng.

Trời hết mưa, tôi cũng vừa xong một dự án nho nhỏ. Thật ra chưa xong hẳn, nhưng có thể thong thả đôi chút, có nhiều thời gian đọc hơn.  Đã kịp đọc khoảng một phần ba số chương của cuốn du ký Phương Đông lướt ngoài cửa sổ. Du ký hẳn là thể loại dễ viết nhưng khó hay. Cứ đi, thể gì cũng có chuyện để kể. Nhưng chỉ đơn thuần kể đôi ba câu chuyện cho dù duyên dáng một tí, hóm hỉnh một tí, exotic một tí, thì cũng chỉ mới là đọc được.  Nói chung trong thể loại này tới giờ tôi vẫn chịu nhất là Kaspucinski - các du ký của ông đầy tính chất khơi gợi.

Đang có rất nhiều thứ để đọc, nhưng cuốn hiểm nhất, mà cũng thuộc loại thú vị nhất là cuốn Tuyển dịch  tập hợp các bài dịch rải rác của Nguyễn Khánh Long.  Đối chiếu tiểu sử, một số chi tiết cá nhân, thời điểm mất, thì tôi có nhiều cơ sở để đoán rằng Nguyễn Khánh Long rất có thể là người từng thường xuyên để lại các comment duyên dáng, uyên bác trên blog này và blog NL.

Trích một đoạn trong bài “Ca ngợi tiểu thuyết” của Carlos Fuentes trong cuốn này:

“… Tôn giáo thì độc đoán. Chính trị thì nặng ý hệ. Lý trí thì phải lô-gich. Nhưng văn chương có quyền mập mờ.

Sự mập mờ trong một tiểu thuyết có lẽ là một cách để nói với ta rằng, bởi lẽ các tác giả (và do đó chính quyền uy) không tin cậy được và có thể cắt nghĩa bằng nhiều cách, thế giới cũng thế mà thôi. Vì thực tại không cố định, mà luôn thay đổi. Ta chỉ có thể tiếp cận thực tại nếu ta thôi cho rằng đã dứt khoát định nghĩa nó rồi. Nhưng sự thực một phần một tiểu thuyết  đưa ra là một tường thành ngăn chặn những lạm dụng giáo điều. Chứ tại sao các nhà văn, bị coi là yếu đuối và vô nghĩa trên bình diện chính trị, lại bị các chế độ toàn trị truy hại, như thể họ thực sự quan trọng?”

Câu cuối làm nhớ tới Salman Rushdie.  Sắp tới nhất định phải rước cuốn Joseph Anton của ông. À, mà tại sao Nobel Văn học năm nay không về tay Rushdie nhỉ?  Xét cả về thể loại ( tiểu thuyết vs. thơ), châu lục (Á vs. Âu/Mỹ), và cả chính trị, rất có thể năm nay là năm của Rushdie.



Hình bác Nguyễn Khánh Long trên bìa, trông thật hiền

Monday, 1 October 2012

Trời mưa, hay cơ hội của sến


Trời mưa, nếu không phải đang lặn ngụp ngoài đường, người ta rất dễ sến. Mười chín, hai mươi tuổi, người ta có thể sến như thế này:

Trời mưa đến nỗi làm thơ được
Trái đất rong rêu ngàn sợ buồn

Hai câu kế là gì, thằng Bố Cu Hưng chắc còn nhớ. Thằng này trí nhớ cực tốt, nhớ thơ của khắp bạn bè, thơ càng sến, càng nhớ dai. Thỉnh thoảng, nó nhắn vào điện thoại mấy câu thơ của một thời ốm đói, hay gặp nhau nó lôi thơ ra đọc, đứa nào cũng tưởng nó chỉ thuộc thơ mình. Dè đâu là tạng nó sến nên thơ hễ sến là nó nhớ.

Thời không phải mười chín, hai mươi nữa, trời mưa vẫn làm người ta chùng lòng, lôi đĩa Tuấn Ngọc hát Vũ Thành An ra nghe cho lòng chùng thêm chút nữa. Nhớ. Nhớ những ngày mới vào đại học, với mấy thằng bạn ốm, hay ngồi co ro trên những chiếc ghế xếp trong mấy quán cà phê cạnh trường, mưa lướt thướt và khói thuốc hình như cũng ướt (khói thuốc từ mồm mấy thằng bạn, chứ mình tập tọng rồi ho sặc gạch nên chẳng đua đòi).  Đứa nào thời ấy cũng có vài cuộc tình u uất, hoặc cố làm cho u uất. Chẳng bao giờ hiểu nổi câu “ Đời con gái cũng cần dĩ vãng/ mà em tôi chỉ còn tương lai”,  “còn tương lai” mà sao thê thảm thế, huống gì mấy thằng sinh viên kiết xác, tiền cà phê có khi không có trả, nghĩ gì tới tương lai.

Trời mưa, lôi Sông ra đọc lại. Sông thì không sến, nhưng mưa nhiều quá, nước chảy nhiều quá, đường sá thành sông cả, đọc lại Sông không phải hợp lắm ru. Đọc Sông lần thứ nhất, thấy văn đúng là văn Tư, gọn ghẽ, chỉn chu vào hàng bậc nhất trong các nhà văn Việt Nam đương đại, nhưng sao không thấy đã, mà thấy thiếu thiếu cái gì. Đọc Sông lần thứ hai, thì biết, hóa ra không thiếu, mà thừa. Không phải thừa câu, thừa từ, hay thừa chuyện, mà thừa mồi. Đây là mồi, ví dụ: “Cậu nhớ mình cũng đọc đâu đó chuyện đàn chim sẻ  bay về dùng mỏ nhổ cỏ trên mộ ông vua hiền lương thương dân như chưa con. Giờ chim sẻ thà đi nhặt cơm thừa ở sàn nước còn hơn, vì kiếm đâu ra những ông vua kiểu vậy.” Ví dụ nữa: “Em bé gằn giọng chữ giặc, mắt vằn những tia máu.  Con nít con nôi hỉ mũi chưa sạch mà ai bày đặt cho nuôi oán thù chi.” Mồi như vậy trong Sông nhiều lắm, toàn mồi ngon, làm status Facebook rất sướng. Nhưng mồi ấy hợp với món tản văn hơn. Mặc dù vậy, vẫn thích Sông, và khoái cú biên tập (của ai?) từ cái tựa ban đầu Đầu sông cuối bãi thành nhõn Sông, đưa Sông ra khỏi quỹ đạo êm đềm bốn chữ của những Ngọn đèn không tắt, Khói trời lộng lẫy, Yêu người ngóng núi, Cánh đồng bất tận, Gáy người thì lạnh

Trời hết mưa. Chuyển sang đọc Phương Đông lướt ngoài cửa sổ, à, hay đọc cho xong Ba phụ nữ can đảm đã?

Post cuốn này cạnh tranh với Mr. TV:) Cũng sách second-hand nhưng như mới.



Friday, 28 September 2012

Cõi người rung chuông tận thế trên The Complete Review

Cuộc đời thì ai cũng đọc sách, nhưng dường như có những người, chẳng hạn bác ở trong cái link này, hay bác Orthofer có khả năng đọc nhiều, và viết về sách nhiều, hơn hẳn phần đông nhân loại còn lại.

Tối qua uống bia, mới nhắc đến những người đọc sách nhiều, trong đó có bác Orthofer. Sáng nay thấy bác đi một đường review Cõi người rung chuông tận thế của Hồ Anh Thái. Chẳng mấy khi sách Việt Nam được dịch ra tiếng Tây, mà chẳng mấy khi Tây review sách ta.  Thế là hào hứng đọc ngay.  Bài đó đây:

http://www.complete-review.com/reviews/vietnam/hoanhthai.htm

Trích trong bài:

"It's a rough and tumble narrative -- pulling one along, but also occasionally frustrating in just how rough the presentation is. (It's unclear how much this has to do with Wayne Karlin's 'adaptation' of the material, and how much with Ho's original.) Compelling, in its own way, and fairly original, it's a bit too much of a mess, too. But certainly an intriguing read, and revealing about a time and place about which very little is available in English. "


Saturday, 22 September 2012

The Gathering - Họp mặt


Tôi bắt gặp trong The Gathering của Anne Enright  (đã có bản tiếng Việt là Họp mặt, Phạm Viêm Phương và Huỳnh Kim Oanh dịch, Nhã Nam & NXB Văn học 2012) những dòng thuộc loại khốc liệt nhất về tình dục. Khốc liệt, không phải vì nó trần trụi, mà vì nó cho thấy, trong cái hành động ngỡ như mang hai con người lại gần nhau nhất, người ta lại có thể ở xa nhau đến mức nào.  Với The Gathering, Enright khẳng định cái chân lý chưa bao giờ cũ: chiều sâu của văn chương không phụ thuộc vào độ phức tạp của câu văn. Văn, có thể như văn của Enright trong cuốn này, giản dị mà thẳm sâu; không màu mè, bày trò mà vẫn cuốn hút; không cố tình triết lý mà vẫn làm người đọc bần thần.


Một đoạn trong The Gathering:

“Tom had sex with me the night of the wake - as if Liam’s death had blown all the cobwebs away: the fuss and the kids and the big, busy job and the late nights spent strenuously not sleeping with other women. He was getting back to the basics: telling me that he loved me, telling me that my brother might be dead but that he was very much alive. Exercising his right. I love my husband, but  I lay there with one leg on either side of his dancing, country-boy hips and I did not feel alive.  I felt like a chicken when it is quartered.”

Thursday, 20 September 2012

Ngày hôm qua, sáng, trưa, chiều, tối


Sáng: Phi ra nhà sách Hà Nội, định mua ít cuốn ELƠIĐĐK gửi cho các tình yêu xứ Bắc, nhưng chẳng còn cuốn nào. Chẳng hiểu sách bán quá chạy hay nhà sách nhập về quá ít. Dù sao, kết quả đã rõ, các tình yêu xứ Bắc hãy tiếp tục đợi. The longer the wait the sweeter the love. 

Về lại văn phòng, thấy một ông bạn ngồi ở quán café trước tòa nhà. Làm ly café, được ông bạn của ông bạn hỏi đã giàu chưa. Đáp rằng, chưa, mà chắc rằng không. Ông này bảo cần phải điều chỉnh, phải tập trung năng lượng và sức lực vào việc kiếm tiền, cho những thứ linh tinh như viết blog, dịch sách xuống thang. Suy nghĩ hết một ngày về ý kiến này.

 Trưa: Ăn cơm với hai bạn tre trẻ. Bạn trẻ hơn trong hai bạn bảo đọc RC không hiểu gì. Đúng là truyện RC không hoàn toàn dễ đọc. Chắc cần có ít trải nghiệm mới đọc được. Có chồng, có vợ rồi càng hay. Mà hay nhất ở chỗ cái tựa sách có thể thay lời muốn nói, đóng góp rất tốt cho tình hình trật tự trị an khu phố, giúp nhận được cái bằng Gia đình văn hóa về treo lủng liểng. Định viết một bài về chuyện đọc và dịch RC, nhưng chưa có thời giờ. Phải tái phân bổ năng lượng một cách hợp ný.

Chiều: Về nhà, hai bạn Alpha và Pi đã về nhà trước. Ngồi ngắm hai bạn một lúc trong lúc hai bạn xem ti vi. Tại sao mình có thể ngắm con không biết chán? Rồi, hỏi vợ, Do you love my children? Vợ trả lời, Who ARE your children?  Đây là một đối thoại rất Raymond Carver.

Tối: Dạy Pi đánh vần xong thì lăn ra giữa sàn nhà ngủ, đèn đuốc sáng choang. Mười giờ rưỡi tỉnh dậy, đọc nốt Sông của Nguyễn Ngọc Tư.  Người thích măm tiểu thuyết măm cuốn này thấy thích. Sẽ có đôi lời về Sông sau. Đang trong quá trình tái phân bổ năng lượng.

Thursday, 6 September 2012

Cái sự khai giảng


‎"Anh kia, sao đi khai giảng về mà mặt anh chảy ra bí xị vậy hử? Đầu năm học mà tinh thần anh đã xuống thế à?". "Mẹ ơi, mẹ không biết đâu, ngồi mãi ngoài sân nắng vỡ sọ, cô lại không cho đi uống nước. Rồi cô hiệu trưởng đọc diễn văn, rồi cô hiệu phó đọc diễn văn, rồi một bác lãnh đạo lên đọc diễn văn, rồi bố một bạn lên đọc diễn văn, rồi các thầy cô lên múa hát, rồi có một anh học sinh cũ làm ảo thuật chán phèo. Rồi tụi con nhìn các cô thả bóng bay, rồi chờ mẹ đón về". "Ô thế các anh không được thả bóng bay à?". "Mẹ ơi, mẹ không biết gì cả. Toàn là các cô thả, năm nào chả vậy".

Trên đây là status trên FB của một bà mẹ có con đi học. Tôi nhảy vào bình luận, đây có thể là tứ cho một truyện ngắn xuất sắc, kiểu truyện Raymond Carver:) Tít truyện có thể là Sao con không được thả bóng bay? Hay Tại sao các cô thả bóng bay?. Vầng, ai đã đọc tập truyện mới nhất của Raymond Carver mới được phát hành ở Việt Nam, Em làm ơn im đi, được không?  do bổn blog chuyển ngữ,thì có thể nhận ra đây là phong cách đặt tít tiêu biểu của Carver: mang một câu trong truyện, đặc biệt là câu hỏi, ra làm tít. :)

Cách đây ba năm, khi tôi chưa có bạn nhỏ nào đi học, tôi có dịp dự lễ khai giảng một trường trung học ở một quận TPHCM. Lần ấy tôi thay mặt công ty trao quà cho trường trong ngày khai giảng. Từ hàng ghế khách, tôi có thể quan sát toàn cảnh buổi khai giảng, đặc biệt thú vị là quan sát các bạn học sinh, ngồi ngay ngắn thành hàng, thả hồn lên trời cao khi các thể loại diễn văn đang được đọc.

Có vài điều thú vị, cũng có thể không thú vị lắm, có thể nhận ra ở mọi buổi khai giảng ở bất cứ trường nào đó là ngày khai giảng là ngày của diễn văn. Nhìn vào mật độ diễn văn ở lễ khai giảng, tưởng cũng nên ngạc nhiên tại sao ở nước ta, sính đọc diễn văn như thế, mà hiếm khi có một diễn văn nào gây thu hút lớn lao đối với đông đảo quần chúng, kiểu như diễn văn của bà Obama chẳng hạn?  Một điều nữa là các trường  phải đồng phục, à nhầm, đồng loạt khai giảng vào ngày 5/9, khi hầu hết các trường đã đi học từ hai ba tuần trước đó.  Có nhất thiết phải khai giảng vào cùng một ngày không?  Và như vậy, có nên định nghĩa lại từ “khai giảng” khi khai giảng không còn là ngày đầu tiên của năm học mới mà là ngày học sinh xếp hàng trong sân trường và nghe đọc diễn văn (và không được thả bóng bay)?

Viết đến đây, thì lại đọc được status của một bà mẹ khác.

 “-Hôm nay khai giảng ở trường em có vui không?
-Không vui lắm mẹ ạ.Con bị phạt đấy, tất cả bọn con trai bị phạt-Sao thế?-Thì nhiều người lên nói quá, bọn con đứng mỏi cả chân.Rồi lại còn đọc cái thư rât dài của ông Dương Chí Khang hay Vương Văn Giang nào í, bọn con chả hiểu gì, thèm nói chuyện quá, quay ra nói chuyện với nhau, thế là cả bọn bị phạt.”


Vầng, hoàn toàn có thể là tứ cho một truyện ngắn xuất sắc khác. Lần này là truyện của Azit Nexin.

Tuesday, 4 September 2012

Raymond Carver - Một tiểu sử văn chương (trích)

Những đoạn dưới đây trích trong bài Biographical Essay của giáo sư William L. Stull tóm tắt cuộc đời và sự nghiệp của Raymond Carver. Bài này nguyên bản tiếng Anh khoảng 8.500 từ, tôi dịch ra tiếng Việt khoảng 9.500 từ. Tôi dịch trọn bài này đã lâu, nay đọc lại thấy nhiều sai sót. Tuy nhiên, không có thời gian chỉnh sửa, nên tôi chỉ post lại ở đây một số đoạn trích nhằm cung cấp thêm thông tin cho những ai quan tâm đến nhà văn viết truyện ngắn của Mỹ được đánh giá là hay nhất từ sau Hemingway và được gọi là Chekhov của người Mỹ.



-------------

Trong cuộc sống, trong nghệ thuật và ngay cả trong cái chết, người có nhiều điểm tương đồng, người thầy và người đồng điệu với Raymond Carver là Anton Chekhov. Cũng như Chekhov (1860 - 1904), người đã phải ở đợ đến khi được ông của mình mua về, còn cha có một tiệm tạp hóa nhưng phá sản, Raymond Carver là con của một gia đình lao động nghèo. Cha ông, Clevie Raymond Carver, lái xe hỏa tuyến Arkansas – Washington trong thời kỳ hạn hán những năm 1930. Clevie Raymond Carver sau trở thành thợ giũa cưa trong một trại cưa và là một người nghiện rượu mất năm 53 tuổi. Vợ ông, Ella Casey Carver, người không xa lạ gì với nạn bạo hành gia đình, phụ giúp thu nhập gia đình bằng nghề hầu bàn và bán cửa hàng. Raymond Clevie Carver, tên thân mật là Junior, Frog và Doc sinh ngày 25 tháng 5 năm 1938 ở Clatskanie, Oregon, một thị trấn chuyên đốn gỗ khoảng bảy trăm dân bên bờ sông Columbia. Cả gia đình quay lại Washington năm 1941, và Carver lớn lên ở Yakima, thành phố trung tâm với hai mươi ngàn dân của “Vựa trái cây quốc gia ”, thung lũng trù phú phía đông Cascades.

Carver là đứa con muộn màng của thời kỳ Đại suy thoái, nên khá lâu sau thời kỳ thịnh vượng hậu chiến nhà ông vẫn chưa có toa-lét trong nhà. Bài thơ Shiftless (1986) của ông mô tả điều kiện kinh tế thời thơ ấu của ông: “Những người giàu hơn chúng tôi thì thoải mái... – Những người nghèo hơn chúng tôi thì thảm hại và chẳng làm gì”. Giống như Chekhov, Carver hiểu rõ cuộc sống bấp bênh cực nhọc và nghèo khó nhờ đó ông viết nên những thiên truyện rạng rỡ về sự thấu cảm, hiểm nguy và sự chật vật khẳng định. Nhiều năm sau ông nói về những người lao động và người phục vụ quê kệch vốn làm nên lớp công chúng ngầm của ông: “Họ là nhân vật của tôi. Không bao giờ tôi có thể coi thường họ được.”
[......]

Chekhov hẳn là chia sẻ [với Carver]. Mười chín tuổi ông chuyển từ tỉnh lẻ Taganrog lên Moscow và gánh vác cái gia đình nghèo túng của mình. Mặc dù là sinh viên y khoa chính quy, “Papa Antosha” vẫn kiếm đủ tiền nhờ vào việc viết những hài kịch ngắn cho những tuần báo phổ thông. Trong thư đề ngày 10 tháng 5 năm 1986, ông đề ra những hướng dẫn cho cái mà các nhà phê bình bảo thủ một thể kỷ sau gọi là truyện mini: “(1) không nhiều lời về chính trị - kinh tế - xã hội”; (2) khách quan xuyên suốt; (3) mô tả nhân vật và sự vật một cách chân thật; (4) cực ngắn; (5) táo bạo và tránh khuôn sáo ; (6) nhiệt thành.” Làm việc dưới những điều kiện tương tự với “trách nhiệm gắn chặt và thường xuyên bị phân tán”, Carver tìm thấy ở Chekhov sự tương hợp về châm ngôn làm việc, và trong những năm 1960 và 1970 ông tái sáng tạo ra truyện ngắn theo phong cách Chekhov. Trong quá trình này ông đã đặt nền tảng cho sự hồi sinh của chủ nghĩa hiện thực trong những năm 1980. Không lâu sau khi Carver qua đời, tiểu thuyết gia Douglas Uner nhận định: “Về mặt văn chương, truyện của Carver hiện hữu như một hình mẫu cho sự phục sinh của truyện ngắn”.

Ít ai sẽ phản đối nhận định của Carver về Chekhov rằng “Chekhov là nhà văn viết truyện ngắn vĩ đại nhất trong lịch sử”. Cũng không ai nghi ngờ đánh giá của Charles May đưa ra trong tác phẩm A Chekhov Companion (1985) rằng Raymond Carver là nhà văn đương đại mang chất Chekhov nhiều nhất. Với tư cách là nghệ sĩ và tư cách con người, cuộc sống cả hai có nhiều nét tương đồng. Bi kịch là sự tương đồng ấy hội tụ trong năm 1988 khi Carver theo chân Chekhov sớm vướng vào căn bệnh tiêu biểu của thời đại mình. Trong trường hợp của Chekhov căn bệnh đó là lao phổi, khiến ông qua đời ở tuổi bốn mươi bốn. Trong trường hợp của Carver đó là chứng ung thư phổi. Nhà văn từng tự mô tả mình là “điếu thuốc có thân người đính kèm” mất vào ngày 2 tháng 8, hai tháng sau sinh nhật thứ năm mươi. Hai năm trước đó tiểu thuyết gia Robert Stone đã gọi Carver “nhà văn Mỹ viết truyện ngắn xuất sắc nhất kể từ Hemingway”. Phát biểu tại lễ tang của Carver ngày 22 tháng 9 ở New York City, ông còn ca tụng Carver hơn thế nữa. Mượn lời từ chính một bài tiểu luận của mình về Chekhov, Stone gọi Carver là “người hùng nhận thức”.

[...]
Sinh nhật thứ năm mươi của Carver đến thật nhanh, trong tháng năm ông nhận được môt số danh hiệu. Những vinh dự này gồm một bài ca ngợi về nghệ thuật sáng tạo của Đại học Brandeis, bằng tiến sĩ văn chương danh dự của Đại học Hartford, và được kết nạp vào Viện Hàn Lâm Nghệ Thuật và Văn Chương Hoa Kỳ. Cũng trong tháng năm, Where I’m Calling From (Từ Nơi Mình Đang Gọi), tuyển tập những truyện mới của ông được Atlantic Monthly Press xuất bản. (Tập Elephant - Voi gồm bảy truyện mới nhất của ông ngay sau đó được xuất bản ở Anh ngày 4 tháng 7). Where I’m Calling From nhận được sự chú ý nồng nhiệt từ bờ Đông sang bờ Tây, bao gồm việc lên trang nhất của tạp chí New York Times Book Review. Quan trọng hơn, sự nhìn lại quá trình sáng tác này đã khiến các nhà phê bình đánh giá lại sự nghiệp và tiếng tăm của Carver. Mặc dù được thừa nhận rộng rãi là “một trong những cây bút truyện ngắn xuất sắc nhất của thời đại chúng ta”, ông bị dán cái nhãn “người theo chủ nghĩa tối giản”, một nhãn hiệu phiến diện không đúng với tinh thần tác phẩm của ông. Where I’m Calling From, gồm ba mươi bảy truyện viết trong vòng hai mươi lăm năm, cho thấy cái được gọi là chủ nghĩa tối giản của Carver là không đúng. David Lipsky viết trên tờ National Review (số ngày 5/8/1988) “Carver không phải là người theo chủ nghĩa tối giản mà là người theo chủ nghĩa chính xác”. Các nhà điểm sách trên Washington Post, San Francisco ChroniclePhụ Trương Văn của tạp chí Times cũng đồng tình. Trên Houston Chronicle số ra ngày 19/6/1988, Roger K. Anderson nhận xét: “Rõ ràng Carver là một bậc thầy. Nhưng giờ đây một tinh thần phóng khoáng mới là cái không thể nhầm lẫn. Đạt được đến mức này có lẽ là đỉnh cao sự nghiệp của ông – một mức độ mới của sự tĩnh lặng.”

[...]

Carver là con một người thợ thủ công, và văn chương của ông phát triển theo những giai đoạn của việc đào tạo một thợ thủ công. Sau khi chuyển gia đình từ Yakima đến Paradise, California, năm 1958, ông ghi danh học trường Chico State College. Ở đó, ông bắt đầu học viết với một người chẳng bao lâu sau sẽ nổi tiếng đó là John Gardner, “nhà văn thật sự” đầu tiên mà ông từng gặp. Trong lời mở đầu cho cuốn On Becoming a Novelist (Về Việc Trở Thành Tiểu Thuyết Gia) của John Gardner, Carver nhớ lại: “Anh đưa cho tôi chìa khóa vào văn phòng của anh. Bây giờ tôi coi món quà đó là một bước ngoặt! Thêm vào đó, Gardner phê bình học trò của mình “sát rạt, từng dòng một”, và dạy cho ông một hệ giá trị “không thể thương lượng được”. Trong số những giá trị này, giá trị về niềm tin là cái mà Carver theo cho đến lúc mất. Cũng như Gardner trong tác phẩm On Moral Fiction (Về Tiểu Thuyết Luân Lý -1978) đã chỉ trích tính “hư vô chủ nghĩa” của chủ nghĩa hình thức hậu hiện đại, Carver cho rằng văn chương vĩ đại là phải kết nối với cuộc sống, khẳng định cuộc sống và thay đổi cuộc sống. Ông viết “trong những truyện hay nhất, nhân vật trung tâm, người hùng cũng là nhân vật “chuyển dịch”, là người mà một điều gì đó xảy ra với anh ta trong truyện làm nên một thay đổi. Một điều gì đó diễn ra và làm thay đổi cái cách nhân vật nhìn chính mình và thế giới”. Từ những năm 1960 đến 1970, ông khuấy động chiều rộng của “ngôi nhà vui” siêu tiểu thuyết do Barth, Barthelme va những người cùng chí hướng dựng nên, thay vì tập trung vào cái mà ông gọi là “những yếu tố căn bản của cách kể chuyện kiểu cũ: cốt truyện, nhân vật, và hành động”. Cũng như Gardner và Chekhov, Carver tự gọi mình là một nhà nhân văn học. Ông khẳng định: “ Nghệ thuật không có nghĩa là tự thể hiện, mà là sự giao tiếp”.

Đầu tiên dưới sự hướng dẫn của Gardner rồi sau đó là Giáo sư Richard C. Day của Humboldt State College, Carver bắt đầu viết truyện. Những truyện đầu tiên, sau này được sửa chữa và đưa vào tập Will You Please Be Quiet Please (Em làm ơn im đi, được không? - 1976) và Furious Seasons and Other Stories (Những mùa dữ dội và những truyện khác - 1977) cho thấy ông đang tìm kiếm giọng điệu của mình dưới ảnh hưởng của những nhà văn đi trước. Truyện xuất bản đầu tiên của ông, Furious Seasons (Những Mùa Dữ Dội - Tuyển, Mùa Đông 1960-1961) là một thử nghiệm kéo dài tính đa thanh của Faulkner. Truyện kế tiếp, The Father (Người Cha – tạp chí Toyon, mùa xuân 1961) một dạng truyện tiết chế kiểu Kafka chưa tới 500 từ. Cũng như các nhà văn khác thuộc thế hệ mình, Carver bị cuốn vào quỹ đạo của Hemingway. Năm 1963, năm ông tốt nghiệp trường Humboldt State, do dự giữa tôn kính và nổi loạn, ông cho đăng cả hai truyện, một truyện bắt chước Hemingway, Pastoral (Truyện Đồng Quê - Western Humanities Review, Mùa đông 1963) và một truyện giễu nhại giải cấu trúc The Aficionados (Toyon, Mùa xuân 1963)
[...]

Carver tìm thấy nhịp điệu của mình. Như Michael Koepf viết năm 1981, “Có một sự trong sáng kiểu Chekhov trong truyện của Carver nhưng cũng có cảm quan kiểu Kafka rằng có gì đó sai lầm kinh khủng đằng sau hậu trường”. Tuy vậy, trong những năm 1960, Carver thực hành những cách thức và phong cách khác. Năm 1963 - 1964 ông học một năm tại Trại viết văn Iowa. (Do thiếu tiền ông đã không thể học năm thứ hai để xong bằng MFA). Năm 1966 ông đăng trên tạp chí December một truyện dài theo phong cách của James Will You Please Be Quiet, Please mà Martha Foley đưa vào trong Những Truyện Ngắn Hay Nhất Hoa Kỳ 1967. Ông thử sức với phong cách văn chương cổ điển (Poseidon and Company – Thần Poseidon và bạn bè, tạp chí Toyon, mùa xuân 1963) và huyễn tưởng (Bright Red Apples - Táo Đỏ Tươi, tạp chí Gato, mùa hè 1967). Ông thử nghiệm phong cách người trần thuật không đáng tin cậy, ngôi thứ nhất kể lại theo phong cách của Sherwood Anderson và khuynh hướng khu vực của Hemingway.
[....]

Chắc chắn rằng đỉnh cao của những năm tháng của con người thạo việc Carver phải là Will You Please Be Quiet, Please? Xuất bản tháng 3 năm 1976 dưới dấu ấn mới của Gordon Lish, tập truyện gồm hai mươi hai truyện nhằm mục đích giới thiệu môt nhà văn “có tầm ảnh hưởng đang tăng” với công chúng. Tập truyện thành công một cách đáng ngưỡng mộ, mang lại cho Carver đề cử National Book Award (Giải thưởng sách quốc gia) năm 1977, cùng năm, tập truyện thứ hai của ông Furious Seasons được nhà xuất bản Capra ấn hành. Nhưng sự thật là cuộc đời bí mật của chính tác giả đã đưa sự nghiệp của ông đến một điểm lặng. Sống tách rời khỏi vợ con, Carver bốn lần phải nằm viện vì nghiện rượu trong thời gian 1976-1977. “Tôi chết dần vì nghiện rượu, tẻ nhạt và đơn giản”, về sau ông nói, “tôi không phóng đại đâu”.
[...]


Tuy nhiên nhìn lại, tập truyện được biết đến nhiều nhất của Raymond Carver thật ra lại là cuốn sách kém tiêu biểu nhất của ông. Với ông, “chủ nghĩa tối giản” thiết yếu của tập What We Talk About When We Talk About Love đánh dấu không phải là một đích đến mà là một bước ngoặt. Sau này ông nói: “Chỉ cần tiến thêm một chút nữa theo hướng ấy là tôi sẽ bế tắc.” Những gì diễn ra trong hai năm sau đó là một khúc quanh nghệ thuật, “một khởi đầu” mà qua đó ông phục hồi và mở rộng những tác phẩm mà ông đã tỉa gọt dưới ảnh hưởng của biên tập viên Lish, “lý thuyết về cắt bỏ” của Hemingway và hứng thú thanh tẩy của chính ông. Hai tập sách nhỏ, FiresIf It Please You thể hiện kết quả của quá trình này. Thêm vào đó, Carver viết hơn chục truyện mới theo một giọng điệu cao hơn, nhiều hy vọng hơn. Truyện đầu trong số này, Cathedral (tạp chí Atlantic Monthly, tháng 9/1981), ông cho là “hoàn toàn khác về quan niệm và phương cách thực hiện so với” những tác phẩm trước của ông
[...]

Cathedral mang lại cho ông đề cử giải Pulizer và Giải của các nhà phê bình sách toàn quốc. Quan trọng hơn, nó đánh dấu sự trưởng thành của ông từ trường học của Godon Lish. Như Jonathan Yardley viết trên Washington Post (4/9/1983): "Những truyện trong Cathedral đã cho thấy rõ rằng Carver đã từ bỏ phong cách tối giản để sang một phong thái rộng mở hơn, bao hàm hơn và rộng lượng hơn." Mặc dù các nhà điểm sách kém sắc sảo hơn mất nhiều năm sau để ghi nhận sự thật này, những ngày thạo việc của Carver đã qua, cũng như khúc đệm xét lại của ông. Với Cathedral, ông tuyên bố sự độc lập của mình với tư cách một bậc thầy. Trong 5 năm còn lại của mình, ảnh hưởng bên ngoài duy nhất đối với tác phẩm của ông là Gallagher và Chekhov.