Hiển thị các bài đăng có nhãn Roth. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Roth. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 1 tháng 5, 2012

Quay nhanh

Đã bao lâu rồi kể từ khi Karenin và Anna thôi làm tình? Còn Vronsky thì sao? Chàng có giỏi cái khoản mang lại cực khoái cho nàng không? Và Anna?   Liệu nàng có thể nào lãnh cảm? Họ đã làm tình trong bóng tối, ngoài ánh sáng, trên giường, trên thảm, được ba phút, ba giờ, nói chuyện lãng mạn hay tục tĩu,  hay im lặng? Chúng ta chẳng biết tí gì về chuyện ấy. Trong các tiểu thuyết thời đó, tình yêu giải trên vùng đất rộng lớn từ lần gặp gỡ đầu tiên đến chỗ mấp mé của sự giao hợp; chỗ mấp mé đó là một ranh giới không được vượt qua.

Thế kỷ hai mươi, tiểu thuyết dần dần khám phá ra tính dục trong mọi chiều kích. Ở Mỹ, tiểu thuyết báo hiệu, và sau đó đi kèm với, biến đổi lớn lao về tập quán đạo đức diễn ra với tốc độ chóng mặt: trong những năm 1950 người ta hãy còn ngột ngạt trong một thứ thanh giáo cứng rắn, thì trong vòng hơn một thập kỷ sau mọi thứ đã thay đổi: cái quãng thời gian dài dặc từ những hò hẹn buổi đầu cho đến hành vi ái tình biến mất. Người ta không còn được che chắn, bảo vệ trước tình dục bởi thứ cảm giác ngập ngừng; giờ đây người ta đi vào chỗ đương đầu trực tiếp, quả quyết với nó.

Ở D.H.Lawrence, tự do tính dục có cái cảm giác của sự phản kháng kịch tính hay bi kịch. Không lâu sau đó, ở Henry Miller, nó bị các uyển ngữ trữ tình bao vây. Ba mươi năm sau, ở Philip Roth, nó đơn giản là một thứ phải có, mặc nhiên, phải đạt tới, thông thường, phổ biến, không thể tránh khỏi, được điển hóa: nó không kịch tích, không bi kịch, cũng chẳng trữ tình.

Giờ thì ta đã tiệm cận giới hạn. Không “xa” hơn. Bây giờ chẳng phải luật pháp, hay cha mẹ, hay quy ước phản đối dục vọng; mọi thứ đều được cho phép, và kẻ thù duy nhất chính là thân thể của chúng ta, bị bóc trần, vỡ mộng, lột mặt nạ. Philip Roth là một sử gia vĩ đại của chủ nghĩa huê tình kiểu Mỹ.  Ông cũng là thi sĩ của nỗi cô đơn lạ lùng ấy của con người bị bỏ lại trơ trọi đối diện với thân thể mình.

Tuy nhiên, trong những thập kỷ vừa qua, lịch sử đã chuyển động rất nhanh đến nỗi các nhân vật trong Giáo sư dục vọng không thể không lưu giữ chút ký ức của một thời đã xa, thời của cha mẹ họ, những người trải nghiệm tình yêu giống các nhân vật của Tolstoy hơn là của Roth. Niềm hoài nhớ tràn ngập không gian khi cha và mẹ Kepesh xuất hiện không chỉ là niềm hoài nhớ của của hai bậc cha mẹ, đó là niềm hoài nhớ cho tình yêu như thế, cho tình yêu giữa cha và mẹ, cho cái tình yêu cảm động, lỗi thời dường như đã biến mất khỏi thế giới ngày nay. (Nếu không còn ký ức  về việc nó từng là thế nào, thì còn lại gì của tình yêu, của bản thân khái niệm tình yêu?) Niềm hoài nhớ lạ lùng ấy (lạ lùng ở chỗ nó không bị ràng buộc với những nhân vật cụ thể mà được sắp đặt xa hơn, bên ngoài cuộc đời của họ, ở hậu cảnh) mang lại cho cuốn tiểu thuyết (có vẻ đầy mỉa mai) này một vẻ dịu dàng xúc động.

Sự tăng tốc của lịch sử đã làm biến đổi sâu sắc những cuộc đời cá nhân mà, trong những thế kỷ trước, thường diễn tiến từ sinh đến tử chỉ trong vòng một giai đoạn lịch sử; ngày nay một cuộc đời  vắt qua hai giai đoạn như thế, có khi nhiều hơn. Trong khi lịch sử từng tiến bước chậm hơn nhiều so với  cuộc đời con người, ngày nay chính lịch sử lại di chuyển nhanh, nó chồm về phía trước, nó trượt khỏi sự cầm nắm của con người, và tính tiếp diễn, cũng nhưcăn cước, của một cuộc đời đang trong mối nguy bị rạn vỡ. Cho nên tiểu thuyết gia cảm thấy có nhu cầu phải giữ lại trong tầm với, bên cạnh cách sống của chính chúng ta, ký ức về cuộc đời e lệ và phần nào bị quên lãng mà tiền nhân ta từng sống.

Đây là ý nghĩa của tính thông tuệ của các nhân vật của Roth, tất cả bọn họ đều là giáo sư văn chương hoặc nhà văn, thường xuyên suy gẫm về Chekhov, Henry James hay Kafka. Đây không phải là sự phô bày tri thức vô nghĩa của một thứ văn chương vị kỷ. Mà đó là mong mỏi muốn gìn giữ những thời đã qua ở chân trời của tiểu thuyết, và không bỏ các nhân vật lại trong một chốn rỗng không nơi mà giọng của tổ tiên không còn được nghe thấy nữa.

Dịch từ bài Love in Accelerating History (Philip Roth: The Professor of Desire) của Milan Kundera, qua bản dịch từ tiếng Pháp của Linda Asher


Chủ Nhật, 26 tháng 2, 2012

Không đầu không đuôi 30-33

30.  Lần đi Hong Kong trước, tôi chỉ mua một cuốn sách là cuốn The Rules of Parenting của Richard Templar. Hồi đó cuốn này còn chưa được dịch ra tiếng Việt, giờ thì có rồi, tên bản tiếng Việt là Những quy tắc làm cha mẹ. Trong cuốn này, có một câu chuyện kể về một bà mẹ khi thấy cậu con trai đang tòn teng trên một thanh xà cách mặt đất khá xa và đang rất hốt hoảng, thay vì rú lên, mà nếu rú cậu bé có thể hoảng hơn và rơi xuống với hậu quả có thể rất khó nghĩ, đã bình tĩnh hướng dẫn con trai leo vào vị trí an toàn rồi xuống đất. Tưởng rằng sau đó bà mẹ sẽ cấm tiệt cậu bé leo trèo, nhưng không, bà không nói gì. Bà tin rằng sau những gì diễn ra cậu bé đã tự học được bài học cần thiết. Tôi nhớ đến mẩu chuyện này khi đọc tới đoạn Ranz và bác bảo vệ trong Trái tim bác nhược đã thuật lại ở đoạn 27. Trong cả hai trường hợp, Ranz và bà mẹ có một cách ứng xử giống nhau: không nhặng xị.

31.  Đi Hong Kong lần này, ngoài việc vác về một cái mũi sụt sịt do cái máy lạnh chạy như ngựa của khách sạn Mariott, như thường lệ tôi còn vác về mấy cuốn sách. Sách mua vội ở sân bay, không phải là rẻ lắm, nhưng cái tật thấy /sách/ là ham khó bỏ. Trong mấy cuốn này, tôi đã đọc xong Nemesis của Roth. Thường thì tôi không đọc ngay những cuốn mới có, nhưng lần này chắc vì có bạn trên FB đợi review của tôi nên tôi đọc ngay. Tôi không chắc có thể nói gì nhiều về cuốn này vì tôi hoàn toàn không thích nó, ngay cả việc đọc hết cuốn sách nhanh như thế tôi cũng tự lấy làm ngạc nhiên. Ở cuốn sách thứ 32 của mình này, Roth chọn một đề tài hoàn toàn khác những cuốn trước đây. Nemesis (tên nữ thần báo thù trong thần thoại Hy Lạp)  lấy bối cảnh trận dịch bại liệt diễn ra vào năm 1944 ở Newark. Bucky, một giáo viên thể dục trẻ tuổi, bất lực nhìn thấy các học trò của mình lần lượt trở thành nạn nhân của bệnh dịch không rõ nguyên nhân này. Thoạt đầu, anh quyết tâm ở lại khu phố cùng các học trò, cùng chia sẻ và chịu đựng với gia đình các nạn nhân, nhưng đến một lúc không còn đủ vững chãi để trụ lại nữa, anh đi như trốn chạy đến công việc mới ở một khu trại hè nơi anh sẽ gặp lại bạn gái của mình. Nhưng trận dịch cũng không tha nơi này. Các thiếu niên ở đây, cả em của bạn gái anh, và chính anh, lần lượt bị trận dịch quật ngã. Nhiều năm sau, người kể chuyện, một trong những học trò của anh ngày xưa, sẽ gặp lại anh, và câu chuyện được kể lại…Đọc cuốn này, tôi có cảm tưởng mình đọc một trong vô số kịch bản phim làng nhàng của Hollywood hơn là một tiểu thuyết của Roth, một nhà văn từng đoạt gần như không sót giải thưởng văn chương danh giá nào, trừ Nobel. Tôi vẫn thích một lối kể chuyện giấu kín cảm xúc. Tuy nhiên, tôi thấy cách kể chuyện của Roth trong cuốn này, dù vẫn được các nhà điểm sách trời Tây khen nức nở, khô, gượng, mệt mỏi, không gợi ra chút cảm xúc nào, cho dù câu chuyện được kể có vẻ là một câu chuyện xúc động, như thể ông đã cạn nguồn. Nếu chưa đọc cuốn nào của Roth, mà lại đọc cuốn này đầu tiên, chắc tôi sẽ không động đến cuốn thứ hai của ông. May mà ít ra tôi đã đọc được dăm ba cuốn khác. Nói ngắn gọn, tôi không recommend Nemesis.

32.  Có bạn hỏi tôi đã đọc xong Những kẻ thiện tâm chưa? Tôi đọc xong rồi, nhưng tôi cũng không recommend cuốn này với bạn, mặc dù vì một lý do hoàn toàn khác. Những kẻ thiện tâm là một cuốn sách nặng ký cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.  Bản tiếng Việt gồm hai tập, với hơn 1.200 trang khổ to ken đặc chữ. Đây là một cuốn sách tuyệt vời, nhưng nó hoàn toàn không dành cho những ai thần kinh yếu. Bản thân tôi trong thời gian đọc cuốn này (hơn một tuần) đã gặp ác mộng liền mấy hôm. Nếu tôi recommend cho bạn, và bạn gặp ác mộng như tôi thì tôi có thể gặp rắc rối. Nên thôi. Tôi không biết nói gì hơn về cuốn này ngoài việc bày tỏ lòng ngưỡng mộ trước tác giả (và cả dịch giả:)).  Bạn có thể đọc thêm những entry rất uyên bác của Đông A về cuốn này.

33.  Chương trình Mỗi ngày một cuốn sách hôm nay xin được khoe một cuốn của Masatsugu Ono, nhà văn “trẻ” Nhật Bản mới viếng thăm Việt Nam gần đây.


Thứ Ba, 30 tháng 8, 2011

Before lunch

Có rất nhiều lý do để mua và đọc Người phàm.  Lý do thứ nhất vì nó của Philip Roth, là cuốn đầu tiên của ông được dịch ở Việt Nam.  Đúng ra là cuốn thứ hai, nhưng cuốn thứ nhất thì chỉ một số rất ít người có thôi:), nên cứ coi là đầu tiên. Thứ hai, là nó mỏng, đọc không mất quá nhiều thì giờ. Tôi chưa cầm bản tiếng Việt, nhưng tiếng Anh đâu đó 200 trang; cho nên dịch giả tiếng Việt có vừa dịch vừa sáng tác thêm (giả dụ thế, chứ ai làm thế bao giờ, thường dịch giả chỉ có cắt bớt:))  cũng khó quá 300 trang. Thứ ba, vì tôi đã đọc nó, và không chê:) Thứ tư, vì có một bác, ngày xưa đáng tin cậy lắm, giờ thì bớt rồi, âm mưu chọn cuốn này làm cuốn sách của năm. Đành rằng bác ấy nói quá, nhưng discount chừng năm mươi phần trăm thì cũng huề vốn.:).  Thứ năm, nếu năm nay Roth được Nobel, thì ta có thể tự hào ta đã chạy trước thời đại:). Thứ sáu, phụ nữ nên đọc cuốn này để hiểu đàn ông hơn.  Thứ bảy, đàn ông nên đọc cuốn này để thấy bóng dáng mình ở đó, everyman mà!


---------

"Hồi trẻ măng tôi có những lần cảm thấy hụt hơi không biết làm sao để yêu một cô gái cho đủ. Đến bây giờ, tôi cảm thấy mình quá gầy gò so với sức nặng của tình yêu dành cho những đứa con."

Nếu bạn thích câu vừa đọc, bạn có thể đọc trọn bài ấy ở đây.

Thứ Sáu, 19 tháng 8, 2011

Vài chuyện


  • Nhân dịp Nhã Nam chuẩn bị cho ra mắt cuốn Người phàm của Philip Roth, cuốn thứ hai của ông ở Việt Nam (phải không hè? không chắc, nhưng không phải cuốn đầu tiên), xin thân ái nhắc nhở các bạn có lần tôi đã nhắc đến cuốn này ở đây. Cuốn đầu tiên của Roth ở Việt Nam hẳn là Một ngày cho người yêu dịch ở Sài Gòn trước 75 từ Goodbye, Columbus. Hiện tại, tôi đang đọc một cuốn khác của Roth là Portnoy's Complaint.  Hic, cuốn này tôi đọc thì không sao, chứ để mấy bạn đang vất  vả như bạn này đọc thì khó lường trước hậu quả lắm.



  • Blogspot mấy hôm nay chập chờn, lúc vào được lúc không, thật là đáng cáu. Nhưng Facebook thì vào ngon ơ.

Thứ Hai, 24 tháng 1, 2011

Thì Roth

Mấy ngày này oải lắm, không viết lách gì đâu nhé.  Sẽ post hình vài entry liên tiếp.  


Để chào mừng bác kia mới ấy xong  và thông đường, tôi cũng xem thử mình có gì của Roth.  Thì đây:


Chủ Nhật, 13 tháng 6, 2010

Vừa đi đường, vừa kể chuyện (II)

***
Philip Roth là một trong những nhà văn đương đại hàng đầu Mỹ. Ông từng đọat giải Pulitzer với cuốn American Pastoral, nhiều giải thưởng văn học khác của Mỹ, và hình như ngấp nghé Nobel. Everyman là tiểu thuyết tương đối mới của ông, viết 2006.

Tôi có cảm giác đây không phải là cuốn xuất sắc của ông, mặc dầu vậy, vẫn nhận thấy cách viết của ông đáng nể. Ông thường viết những câu ngắn, cô đọng, chính xác. Trong một lần trả lời phỏng vấn, ông nói hình như ông đánh mất tinh thần hài hước. Hẳn đó chỉ là một cách nói, vì trong cuốn này, tuy hài hước không phải tinh thần chính, nhưng vẫn thấy đây đó Philip Roth đang nhếch mép.

Everyman mở đầu bằng đám tang của một người mà ta sẽ nhanh chóng nhận ra đó là nhân vật chính – một người đàn ông thành đạt trong nghề quảng cáo, có ba đời vợ, có hai con trai ghét ông như đào đất đổ đi - ghét đến nỗi khi ném nắm đất xuống huyệt mộ ông và chúc ông yên nghỉ cũng không thể hiện chút tình cảm nào trong giọng nói, một đứa con gái yêu ông và ông yêu hơn mọi thứ trên đời, và một số người tình. Everyman kết thúc bằng đoạn đối thoại giữa ông này và người đào huyệt trong nghĩa trang - người từng đào huyệt cho cha mẹ ông, và có thể sắp đào huyệt cho chính ông – và là một con người làm việc cần mẫn, chính xác, luôn đào những huyệt mộ “sâu sáu foot và đáy thật phẳng đến nỗi người ta có thể kê giường lên” một cách chuyên nghiệp và đầy tinh thần trách nhiệm, hệt như cách Roth viết một câu văn vậy.

Tôi đọc hết cuốn này khi bay từ Sài Gòn sang Tokyo. Hết truyện, tôi chợt nhận ra hình như Roth không đặt cho nhân vật chính của mình một cái tên, trong khi tất cả nhân vật phụ bao gồm ba bà vợ, hai anh con trai, một cô con gái, một ông anh ruột và một cô y tá kiêm tình nhân, tất cả đều có tên. Tôi chưa nhớ ra một cuốn tiểu thuyết nào khác trong đó nhân vật chính không có tên. Có lẽ đó là lý do tại sao Roth gọi tiểu thuyết này là: Everyman. Người đàn ông này có thể là bất kỳ người đàn ông nào khác: ích kỷ, nhiều đam mê, lắm lỗi lầm nhưng cũng thật sự chân thành. 

Văn của Roth chân phương, giản dị. Câu chuyện không nhiều tình tiết, không màu mè. It doesn’t really have a plot, although there is a plot against America! Tôi nghĩ tôi sẽ có thể tiếp tục đọc Roth.

***
Không có gì nhiều để nói về sân bay Narita, Tokyo, nơi tôi trải qua ba tiếng đồng hồ quá cảnh, một tiếng rưỡi trong đó dành cho việc làm các thể loại thủ tục giấy tờ và an ninh buồn chán.

Không nhộn nhịp như khu vực quá cảnh của sân bay Singapore hay Hong Kong, hoặc cũng có thể vì người ta đẩy tôi đến chỉ một góc nhỏ, phần của sân bay Narita tôi nhìn thấy khá lặng lẽ. Phải nỗ lực khá nhiều tôi mới tìm được một quầy nho nhỏ bán đồ lưu niệm, nước giải khát và thức ăn nhẹ. Tôi gọi một món ăn có hình chụp giống một tô mì gói, tên là miso ramen. Hóa ra đó là một tô bao gồm mì, măng, bắp hạt, một loại rau không rõ tên có vị là lạ, và một loại thịt không xác định. Hy vọng không phải thịt người. Không có bàn để ngồi ăn, chỉ có một quầy dài đủ cho bốn người gác khay đồ ăn lên và đứng đối diện nhau ăn cùng một lúc. Món mì ăn tạm được, hơi dư muối, chắc vì cả nước Nhật bao quanh bởi đại dương. Ngoài tôi mì này, tôi còn mua một cái bánh ngọt nhỏ. Có khá nhiều loại bánh ngọt ở đây và phải rất kiềm chế mới không mua hơn một cái. Các loại bánh của Nhật, ngon hay không chưa biết, nhưng đều được đóng trong bao bì xinh xắn, trông hết sức ngon mắt.

***
Từ Tokyo sang Chicago, tôi bay American Airlines. Cũng là hàng không Mỹ, nhưng American Airlines tốt hơn nhiều so với United Airlines, tuy nhiên tuổi tác và nhan sắc các tiếp viên hai hãng này thì tương đương: đại khái không dùng để ngắm, trừ khi bạn nhớ mẹ. United Airlines là cơn ác mộng cho những chuyến bay đường dài: ghế ngồi bé tẹo, không có chương trình giải trí cá nhân, và thức ăn thì ôi thôi tệ. Làm sao họ có thể nghĩ ra được việc cho hành khách trên chuyến bay xuyên đại dương ăn tối bằng một cái bánh quy và một ly mì bé bằng một phần ba ly mì ta vẫn thường thấy trên kệ các siêu thị? Bữa tối của American Airlines thịnh soạn hơn nhiều. Thường khi bay đường dài, tôi vẫn cố chén sạch những gì người ta dọn ra, phòng khi bao tử cồn cào bất chợt. Vậy mà, lần này, tôi chừa lại những nửa cái bánh mì tròn cộng với 1/3 miếng phô-mai hiệu Kiri! Riêng về món cà phê thì tôi vẫn nghĩ đã đến lúc cần truy tố các hãng hàng không – không chừa hãng nào – về tội dám gọi cái món nước nhờ nhờ nhạt nhẽo mà họ vẫn thường cho khách uống trên máy bay bằng hai từ cao quý: cà phê.

Nhân nói đến cà phê, tôi biết có một nhà văn nọ không uống cà phê. Thậm chí, nhà văn nọ không uống cả trà, không uống bia, không uống rượu, đến cả heroin cũng không dùng. Thế làm quái nào viết văn được, tôi bảo. Thay vì trả lời, nhà văn đi…đánh răng!

***
So với việc làm thủ tục nhập cảnh ở sân bay Los Angeles hay San Francisco, nơi luôn có những dòng người xếp hàng dài ngoằn ngoèo tưởng chừng bất tận, thì làm thủ tục nhập cảnh tại sân bay O’Hare là một niềm vui – tất nhiên chỉ trong trường hợp mỗi ngày bạn cần chọn một và chỉ một niềm vui. Chỉ mất ba mươi phút, tôi đã xong thủ tục nhập cảnh, hải quan và lấy được hành lý. Nhưng mất một tiếng, tôi mới được đón. Mất hai tiếng nữa, tôi mới về được nhà của một bác (bác này tuy cho ở nhờ nhưng keo kiệt không cung cấp internet!:)). Trốn Sài Gòn sang tận Chicago mà vẫn không tránh khỏi kiếp kẹt xe. Điểm khác biệt so với kẹt xe ở Sài Gòn là ở đây xe nào vẫn giữ làn xe đấy, nên đường vốn có ba làn xe, khi kẹt xe vẫn chỉ có ba làn, không thành năm hay sáu làn hỗn hợp như ở Sài Gòn.

Chicago mùa hè, cây lá xanh mướt, không khí trong lành. Nhìn những công viên trải dài trong nắng, người ta chỉ muốn xỏ giày và ra đường chạy bộ. Rải rác đây đó là những khu trò chơi trẻ con với cầu tuột, xích đu, vòng thang xoáy leo trèo đầy ắp tiếng cười con trẻ. Nhớ hai bạn Alpha và Pi ở nhà. Đi chỉ mới ngày, mẹ hai bạn đã nhắn tin bảo con gái nói: “Con đã bắt đầu nhớ ba rồi đấy!”