Thứ Hai, 20 tháng 4, 2026

Thơ ca là hiện tại

Thơ ca là hiện tại

Tiểu luận của Charles Simic

(Bài phát biểu tại một hội thảo về Octavio Paz và sau được đăng trên tạp chí Western Humanities Review năm 1991)


Suốt cuộc đời mình, Octavio Paz vẫn giữ được sự tự do, không bị cám dỗ bởi nhưng ý hệ không tưởng cũng như nỗi hoài niệm đã lan tràn và giam hãm biết bao người cùng thời với ông.
Có người - tôi quên mất là ai - từng nói rằng để chịu đựng được thời hiện đại của chúng ta cần một bản lĩnh anh hùng. Paz là một trong những anh hùng đích thực của chúng ta. Trong thời đại mà sự bất khả truyền đạt của hầu hết mọi thứ được tôn vinh, ông vẫn suy nghĩ và viết một cách sáng tỏ. Ông hiểu những gì mình biết - điều đó, một lần nữa, khiến ông trở nên khác thường.
Tôi muốn gọi tư duy của ông là sự biện hộ bền bỉ và hùng hồn nhất cho thơ ca mà chúng ta có được.
Thơ ca có cần được biện hộ không? Tất nhiên. Luôn luôn - và đặc biệt là hôm nay.
Tối qua, Octavio Paz nói với chúng ta: “Thơ ca là hiện tại.” Tôi hoàn toàn đồng ý. Đây là ý tưởng táo bạo nhất của thơ ca, và nó có một lịch sử dài, thú vị, mà tôi muốn nói qua đôi chút.
Chúng ta không chắc ai là người đầu tiên, Sappho hay một người cùng thời đã bị lãng quên của bà, nhưng vào thế kỷ thứ bảy trước Công nguyên, ta đã nghe thấy một điều gì đó mới mẻ trong thi ca, một giọng nói trong cô độc, đối với nó, khoảnh khắc hiện tại là tất cả:
Trăng và chòm Pleiades đã lặn,
đêm đã qua đi một nửa,
và thời gian trôi vùn vụt.
Tôi nằm trên giường, một mình.
Trước đó, dĩ nhiên, chúng ta đã có sử thi với tiếng gươm đao va chạm, với những câu chuyện về các vị thần và những anh hùng, cùng nhiều loại hình thơ ca khác, nhưng chưa từng có gì mang âm hưởng giống như Sappho. Trong một bài thơ khác, bà viết:
Tôi nhớ Anaktoria
người đã rời xa tôi
tôi thà được ngắm nhìn dáng đi yêu kiều
và gương mặt trắng ngần tỏa sáng của nàng trước mắt mình
còn hơn là nhìn những cỗ chiến xa của Lydia
rực rỡ trong lớp giáp phục sẵn sàng cho trận đánh
Đột nhiên, thay vì những câu chuyện về thần linh và các vị anh hùng, chúng ta có được cuộc đời của các thi sĩ. Nói cách khác, đó không phải là những gì Zeus hay Achilles làm, mà là những gì một phụ nữ nào đó trên hòn đảo ngoài khơi Tiểu Á cảm nhận trong một đêm thao thức. Giọng nói, cuộc đời và khoảnh khắc vượt thời gian của bà đồng vọng qua nhiều thế kỷ.
Thơ trữ tình đại diện cho một thay đổi lớn trong lịch sử nhận thức và lịch sử văn học. Olga Friedenberg nhận xét rằng nó đánh dấu sự chuyển dịch từ cái nhìn thần thoại hóa sang cái nhìn thực tế về thế giới. Chính trong thơ trữ tình, vũ trụ văn học lần đầu tiên được lấp đầy bởi các cá nhân. Trước đó vẫn luôn tồn tại thơ trữ tình, những bài dân ca do phụ nữ hát, nhưng người kể chuyện trong đó luôn ẩn danh. Sappho đã đưa vào đó đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất, biến trải nghiệm của dân ca thành trải nghiệm cá nhân. Chính phụ nữ là những người đã phát minh ra thơ trữ tình.
Các nhà triết học và thần học đã bị sốc. Giáo hội Công giáo thời sơ khai đã điên cuồng đốt sạch các tác phẩm của Sappho. Ngày nay, chỉ còn lại những mảnh vụn từ các bài thơ của bà. Về cuộc đời bà, chúng ta gần như không biết gì. Một số tác giả cổ đại nói bà là một nữ tư tế, số khác lại bảo bà là một kỹ nữ.
Thật kỳ lạ khi trong thế kỷ của chúng ta, những lời lẽ tương tự lại xuất hiện trong sự lên án đối với nữ thi sĩ người Nga, Anna Akhmatova. Sa hoàng văn hóa của Stalin, Andrey Zhdanov, đã nói rằng: đây là một con mụ tiểu tư sản, nửa nữ tu, nửa điếm. Ông ta cho rằng những bài thơ mang đậm tính cá nhân của bà, pha trộn giữa tính dục và chủ nghĩa huyền bí, là xa lạ với tinh thần của nhân dân Xô viết đang xây dựng chủ nghĩa xã hội.
"Hỡi ý thức, hiện tại thuần khiết nơi mà quá khứ và tương lai cháy mà không có vẻ rực rỡ cũng chẳng có hy vọng. Mọi thứ đều dẫn vào cõi vĩnh hằng này, nơi chẳng dẫn tới đâu cả," Paz đã viết như thế trong một bài thơ.
Thơ ca là khoảnh khắc, là trải nghiệm về một khoảnh khắc trần trụi. Vấn đề không hẳn là mọi thời đại đều đồng thời xảy ra như Ezra Pound từng khẳng định, mà là mọi khoảnh khắc hiện tại trong văn học đều đồng thời xảy ra.
Tuy nhiên, câu chuyện không chỉ dừng lại ở đó. Mệnh đề "thơ ca là hiện tại" mang những tham vọng triết học mà các nhà triết học và thần học cổ đại vốn đã nghi ngại, còn các nhà Marxist thế kỷ XX thì trừng phạt nặng nề.
Đây là những gì các nhà thơ trữ tình muốn nói: Trong khi triết học và thần học đặt câu hỏi Hiện hữu là gì, thì thơ ca cho chúng ta trải nghiệm về Hiện hữu. Các nhà thơ, như chúng ta tin tưởng, đã hết lần này đến lần khác nhắc nhở các nhà triết học về sự hiện diện đầy kinh ngạc và khó hiểu của thế giới này.
Đáng tiếc thay, không nhiều nhà triết học và phê bình văn học đương đại tin vào điều đó. Như Hayden Carruth từng nói với tôi: "Những nhà thơ chúng ta ở nửa sau thế kỷ XX thực chất là những nhà siêu hình học bị đặt sai chỗ của thế kỷ XIX, những người vẫn đang sống trong các vùng tư tưởng mà các nhà triết học đã tháo chạy vì bối rối, tuyệt vọng và cả sự khiêm tốn giả tạo." Ông ấy dĩ nhiên là đúng. Đối với một số người, thơ ca chẳng qua chỉ là tiếng huýt sáo trong bóng tối.
"Không có hiện diện nào cả," nhà phê bình lỗi lạc Geoffrey Hartman tuyên bố, "chỉ có sự tái hiện, và tệ hơn, là các sự tái hiện." "Không có gì nằm ngoài văn bản," Jacques Derrida nói. Họ khẳng định rằng các nhà thơ đang sa đà vào cái quan niệm kiểu tư sản rằng các ký hiệu là minh bạch, rằng chúng chỉ dẫn đến một thực tại đích thực. "Một sự cám dỗ đầy mê hoặc đối với những tâm hồn mê muội," Paul de Man quả quyết với chúng ta.
Do đó, giá trị chân lý của thơ ca bằng không. Người ta hân hoan bảo với chúng ta rằng mọi hình ảnh và ẩn dụ của các nhà thơ chỉ đơn thuần trỏ ngược về chính ngôn ngữ mà thôi. Plato từng giam cầm chúng ta trong hang động để chứng minh sự vô tri và tình cảnh khủng khiếp của con người, nhưng trong nhà tù ngôn ngữ ngày nay, các nhà triết học của chúng ta lại cảm thấy hạnh phúc.
Ngôn ngữ không phải là nhà tù duy nhất. Chúng ta bị tống giam, như lời họ nói, vào những nhà tù của giai cấp, chủng tộc, giới tính, văn hóa, vân vân. Cảnh quan trí thức ngày nay là cảnh quan của những nhà tù, những trại giam an ninh nghiêm ngặt và những gulag triết học.
Những quan niệm như thế nghe có vẻ hợp lý nếu ta quên đi nhiều điều về văn chương, và nhất là nếu ta quên đi dịch thuật. Làm sao mà thơ Hy Lạp cổ đại vẫn khiến ta xúc động nếu không có những trải nghiệm phổ quát? Như người bạn của tôi, Mark Strand, và tôi đã nhận ra từ nhiều năm trước, thơ ca không phải là cái bị mất đi, mà là cái còn lại trong bản dịch.
Tôi đồng ý với Octavio Paz rằng không thể là một nhà thơ nếu không tin vào sự đồng nhất giữa từ ngữ và ý nghĩa của nó. Có một cái gì đó vượt ra ngoài ngôn ngữ mà mỗi bài thơ đều phải dựa vào để tồn tại. Lời than phiền rằng ngôn ngữ giả vờ khiến sự vật hiện diện trước chúng ta nhưng luôn thất bại trong việc đó, điều này không có gì mới mẻ với các nhà thơ. Đúng, viết làm biến dạng sự hiện diện. Đúng, có một vực thẳm giữa từ ngữ và kinh nghiệm về sự hiện diện mà bài thơ cố gắng gọi tên. Thế nhưng, chúng ta vẫn có một ý niệm khá rõ về điều mà Sappho và Anna Akhmatova nói.

“Trong khoảnh khắc thời gian khi giọt nhỏ hình thành mà chưa rơi xuống,” - Theodore Roethke viết. Thơ Mỹ đã bị ám ảnh bởi sự hiện diện và chân lý hữu hình kể từ thời của Ralph Waldo Emerson và Walt Whitman. “Bằng chân lý hữu hình, chúng ta muốn nói đến sự lĩnh hội trạng thái tuyệt đối của những sự vật hiện tại,” Herman Melville viết trong một bức thư gửi Nathaniel Hawthorne. Chủ đề của phần lớn thơ Mỹ là nhận thức luận về sự hiện diện. Robert Frost, Wallace Stevens và William Carlos Williams đều có thứ để nói về điều đó. Bài thơ tuyệt vời “Self-Portrait in a Convex Mirror” của John Ashbery là một suy niệm về câu đố ấy, “kẻ xa lạ ấy,” như ông gọi, “hiện tại câm lặng, không bị chia cắt.”
“Để mở khóa khoảnh khắc, để/xuyên vào những căn phòng sững sờ của nó…” (lại là Paz). Đây là điểm nơi thời gian và vĩnh cửu, lịch sử và ý thức gặp nhau, một mảnh vụn của thời gian bị ám ảnh bởi toàn thể thời gian. Hiện tại là nơi duy nhất chúng ta trải nghiệm cái vĩnh cửu. Cái vĩnh cửu co lại bằng kích thước của hiện tại, bởi chỉ có hiện tại mới có thể được con người nắm bắt.
Trong bản chất của nó, một bài thơ trữ tình là về thời gian bị ngưng lại. Ngôn ngữ vận động trong thời gian, nhưng xung lực trữ tình thì mang tính thẳng đứng. Dĩ nhiên, không thể thực sự nói được sự hiện diện là gì; người ta chỉ có thể cố gắng nói nó giống như thế nào. Đôi khi - và đây là một nghịch lý - chỉ những tưởng tượng hoang dã nhất mới có thể bắc cầu qua vực thẳm giữa từ và vật.
Thơ ca lớn lên nhờ những mâu thuẫn như thế. Chẳng hạn, người ta vừa sử dụng ngôn ngữ, vừa bị ngôn ngữ sử dụng. Tôi yêu cảm thức về khoảnh khắc của Sappho, nhưng tôi cũng có những gã khổng lồ một mắt của Homer, những quái vật nhiều đầu, chưa kể những người phụ nữ mình cá hát hay đến mức các thủy thủ phải nhét sáp vào tai nếu không sẽ phát điên, cùng với bao phát minh kỳ diệu khác của ông. Điều tuyệt vời nhất của thơ ca là nó làm các ông thầy, các nhà giảng đạo và những kẻ độc tài tức điên và khiến phần còn lại của chúng ta sướng rỡ.

Thứ Hai, 13 tháng 4, 2026

Chùm thơ Bắc Đảo

Những bài sau của Bắc Đảo tôi dịch qua bản dịch tiếng Anh. Tất nhiên, như vậy không phải là tối ưu, nhưng thích thì làm thôi.


| Tuyên ngôn |
cho Ngộ La Khắc*

Có lẽ giờ khắc cuối đã đến
Tôi chẳng để lại di chúc nào
Chỉ một cây bút, cho mẹ tôi
Tôi không phải anh hùng
Trong một thời đại không còn anh hùng
Tôi chỉ muốn được làm một con người
Đường chân trời tĩnh lặng
Chia đôi hàng ngũ người sống và kẻ chết
Tôi chỉ có thể chọn bầu trời
Tôi sẽ không quỳ xuống đất
Để những kẻ hành hình trông cao lớn
Càng dễ chắn ngọn gió tự do
Từ những lỗ đạn như sao kia sẽ tuôn ra
Một bình minh đỏ máu
(Bắc Đảo)
*Ngộ La Khắc là nhà hoạt động nhân quyền Trung Quốc, bị xử tử năm 27 tuổi trong Cách mạng Văn hoá.




| Đèn xanh |
tặng Fred Wakeman*

cố quận trăng tàn
chìm vào ao sâu
nặng như đá tảng
những ngôn từ anh đưa vào lịch sử
bẻ hướng cả dòng sông
bao nhiêu mùa hoa nở
đẩy đưa triều đại hưng vong
tiếng quạ là tiếng trống
đế vương như tằm nhả tơ
dệt thành cuộn sách dài vì anh
mỹ nhân tợ mây
hộ tống hành trình trong tim
đèn xanh hé một góc giấc mộng
anh viên thành ngọn lửa
hóa thân nên tuyết dày
nâng chén rượu trước gió
già đi cùng Trung Hoa
hành lang dài xuyên suốt xuân thu
người lạ nơi cổng
đang gõ vang vòng cửa
*Fred Wakeman, giáo sư người Mỹ, sử gia chuyên nghiên cứu Trung Hoa.





| Bài ca trên đường |

trong sự lãng quên giữa những lùm cây
cuộc tấn công nên thơ của lũ chó
ở đoạn cuối chuyến đi không hồi kết
đêm xoay mọi chìa khóa vàng
nhưng không cánh cửa nào mở ra cho em
chiếc đèn lồng tuân theo
những quy luật mùa đông cổ xưa
tôi đi thẳng về phía em
chiếc quạt lịch sử em mở ra
gấp lại trong khúc ca quạnh quẽ
chuông chiều thong thả chất vấn em
tiếng vọng đáp thay em hai lượt
đêm tối dong buồm ngược dòng
rễ cây âm thầm phát điện
thắp sáng vườn cây trái của em
tôi đi thẳng về phía em
ở điểm đầu mọi con đường tha hương
khi ngọn lửa khoác lên tuyết lớn
hoàng hôn niêm phong đế quốc
cuốn sách đất đai lật đến phút giây này





| Vượt qua mùa đông |

tỉnh dậy: rừng thông phương bắc
tiếng trống dồn trên mặt đất
rượu nồng ánh nắng thân cây
kích động lớp băng tối tăm
trái tim thét gào cùng bầy sói
gió đánh cắp chính gió
mùa đông thiếu tuyết rơi
lớn hơn cả ẩn dụ của nó
nhớ nhà như quân vương mất nước
muôn năm lạc lối kiếm tìm
biển cả vì người sống mà thương tiếc
sao luân phiên soi sáng tình yêu
Ai kẻ chứng nhân cho toàn cảnh
dẫn sông từ những chiếc tù và đồng
và cuộc bạo động của vườn cây?
Nghe chăng? Người yêu tôi hỡi
hãy già cùng nhau tay trong tay
ngủ đông cùng ngôn từ
dệt lại thời gian còn kẹt nút
hoặc một bài thơ ngưng bút






| Đoá hồng thời gian |

khi người gác đêm chìm vào giấc ngủ
bạn ngoảnh lại cùng cơn bão
già đi trong vòng ôm chính là
đoá hồng thời gian
khi lối chim bay xác định nên bầu trời
bạn ngoái nhìn hoàng hôn
hiện ra trong tan biến chính là
đoá hồng thời gian
khi lưỡi dao cong đi trong nước
bạn bước lên tiếng sáo qua cầu
bật khóc trong âm mưu chính là
đoá hồng thời gian
khi ngòi bút vạch đường chân trời
bạn tỉnh thức bởi tiếng cồng phương Đông
nở ra trong dư âm chính là
đoá hồng thời gian
trong gương luôn có khoảnh khắc ấy
khoảnh khắc dẫn tới cánh cửa tái sinh
cánh cửa mở về phía biển
đoá hồng thời gian





| Câu chuyện buổi sáng |

Một từ xóa sổ một từ khác
một cuốn sách ra lệnh
đốt một cuốn sách khác
buổi sáng dựng lên bằng bạo lực ngôn ngữ
đã thay đổi buổi sáng
có tiếng người húng hắng
Lũ dòi ăn tới lõi
lõi tới từ những thung lũng tẻ nhạt
từ trong những đám đông tẻ nhạt
chính phủ tìm ra phát ngôn nhân của mình
mèo và chuột
có những biểu hiện giống nhau
Trên con đường trên trời
người kiểm lâm vũ trang tra soát
mặt trời ầm ì lăn qua
trên mặt hồ nhựa đường
ông nghe thấy âm thanh của thảm hoạ
cái âm thanh mênh mang của một trận đại hỏa hoạn







| Năm mới |


đứa bé ôm hoa bước về năm mới
vị nhạc trưởng xăm bóng tối
lắng nghe quãng dừng ngắn nhất
dồn sư tử vào chiếc lồng âm nhạc
giục hòn đá giả trang kẻ lánh đời
chuyển động trong những đêm song song
ai là kẻ ghé thăm? khi ngày
thảy nhào khỏi tổ và bay xuống đường
cuốn sách thất bại ngày càng dày và sâu sắc hơn
mỗi sát na một lối tắt
tôi lần theo nó băng qua ý nghĩa Đông phương
rồi trở về nhà, khép lại cánh cửa của sự chết




Bản tiếng Anh những bài này có post tại trang FB.


Thứ Ba, 23 tháng 12, 2025

Mùa chinh chiến ấy

Kết một năm đọc sách bằng cuốn Mùa chinh chiến ấy của Đoàn Tuấn. Cuốn này vốn không nằm trong kế hoạch đọc sách của tôi. Sở dĩ tôi tìm tới cuốn này là vì quanh vụ Nỗi buồn chiến tranh, có người nhắc tới Mùa chinh chiến ấy nên tôi đặt mua và đọc luôn.

Về đề tài chiến tranh biên giới Tây Nam thì tôi đã đọc Chuyện lính Tây Nam của Trung Sỹ. Đó là một cuốn hay bất ngờ. Mùa chinh chiến ấy cũng là hồi ức của một cựu chiến binh chiến trường K (Campuchia). Những câu chuyện trong Mùa chinh chiến ấy qua giọng kể của tác giả Đoàn Tuấn không hấp dẫn người đọc bằng phẩm chất văn chương hay nghệ thuật kể chuyện, mà bằng bản thân câu chuyện: sự thật khốc liệt của chiến tranh, bản thân nó đã là hấp lực với người nghe kể chuyện mà không cần bất cứ gia vị nào.

Tôi không rõ thống kê chính thức về thương vong của quân đội Việt Nam trong suốt cuộc chiến này đã có bao giờ được công bố và nếu có thì là con số nào. Tuy nhiên đọc cuốn sách này, có cảm giác là thương vong khá nặng nề. Có người nhập ngũ hôm trước, hôm sau đã chết. Có người được giải ngũ, trên đường về nước xe cán phải mìn, chết. Rất nhiều cái chết vì mìn, nhiều loại mìn khác nhau. Hy sinh trên chiến trường đã đành, còn rất nhiều cái chết vì nhiều nguyên nhân khác: chết đuối, bị lũ cuốn, sốt rét, chết vì vi khuẩn yếm khí, tự sát do quá khát nước, bị sét đánh, bị ngất trên đầm rồi bị đĩa hút máu tới chết...

Ngoài những mẩu chuyện về hy sinh, chết chóc, những gian khổ cùng cực của đời lính, cuốn sách còn kể về những khía cạnh khác của lính chẳng hạn nhu cầu sinh lý hoặc khía cạnh tâm linh. Có chuyện một chiến sĩ vì léng phéng với con gái Campuchia mà bị tử hình làm gương, giữ kỷ luật quân đội. Chuyện có anh giấu được một tấm ảnh một cô gái khỏa thân to bằng người thật, lính ta chia phiên nhau để ngủ với tấm ảnh này. Chuyện một anh lính ngửi thấy mùi nữ văn công từ cách xa 7km và phăng phăng chạy băng rừng đến tận nơi. Chuyện một người lính hy sinh vì giẫm mìn, đêm đêm về trong giấc mơ của một người lính khác để đòi giày, mãi đến khi đem giày cùng lên mộ mới thôi hiện về. Chuyện chính tác giả đêm nghe tiếng trẻ em kêu cứu trên hồ, tính lao ra cứu thì bị chặn lại, hóa ra anh mộng du, nhưng sau đó hỏi người dân địa phương thì biết đã từng có hai đứa trẻ chết đuối trên chính hồ ấy. Và tất nhiên, còn rất nhiều mẩu chuyện khốc liệt hay ly kỳ khác nữa.

Một cuốn sách như Mùa chinh chiến ấy, tôi thấy có giá trị tư liệu thật lớn, nhất là khi được kể từ góc độ của người lính trơn, không phải góc độ của tướng. Làm lính thật khổ. Lính đi chiến đấu khổ trăm lần. Không phải đi lính đương nhiên là sướng. Cào bàn phím còn sướng hơn.

Tình cờ đọc xong cuốn sách vào ngày 22/12.

 

Thứ Năm, 18 tháng 12, 2025

Tạp bút Bảo Ninh

Nhân dịp Nỗi buồn chiến tranh đang bị đánh tưng bừng, bèn lôi cuốn Tạp bút Bảo Ninh ra đọc cho hết. Đây là tập hợp các bài báo đăng chủ yếu trên Văn nghệ trẻ, Văn nghệ quân đội và các báo khác dưới các bút danh Bảo Ninh, Nhật Giang, Mã Pí Lèng. Vì là tập hợp các bài báo, nhiều bài trong đó mang tính thời sự, nên giờ đọc lại không phải bài nào cũng thấy hay hoặc đồng cảm, nhưng cũng có thể nhặt ra một số chi tiết đáng chú ý:

+ Bảo Ninh bài bác cái trò đại ngôn ca bóng đá thành Tổ quốc, tình yêu bóng đá thành tình yêu Tổ quốc. Ông bảo Tổ quốc là Tổ quốc, bóng đá là bóng đá. Thiên vị là cố nhiên, nhưng thua thì buồn chán chứ không phải quốc thể bị hạ nhục. Ông cho rằng cái sự gán ghép ầm ĩ là một trong những nguyên do bóng đá VN ít tiến bộ, vì đá trúng trật một đường bóng mà là vấn đề vinh nhục quốc gia thì ai mà bình tĩnh đá được.

+ Về vấn đề đền ơn đáp nghĩa với thương binh, liệt sĩ, cựu binh, ông nhấn mạnh sự kiệm lời và lòng thành thực. Bớt cái hoa mỹ, bớt đi tượng đài, bia kỷ niệm xấu xí nhàm tẻ, bớt những vở kịch, bộ phim "cúng cụ". Ông cũng là người phản bác cụm từ "chiến sĩ vô danh".

+ Ông kể chuyện ngày Hồ Chí Minh mất, Hà Nội đã chìm trong nước mắt như thế nào. Nhiều thanh niên đã lên tàu liên vận đi học nước ngoài, nghe tin Hồ Chí Minh mất đã quay về để nhập ngũ.

+ Bài viết về ngày ông trở về Hà Nội sau chiến tranh đặc biệt cảm động. Ông tả bữa cơm đoàn tụ lặng lẽ như thế nào, khép cửa sổ, tắt bớt đèn, gặp nhau vui mà không dám reo, vì nhà hàng xóm nhiều con em không trở về. Bạn bè lớp cũ gặp nhau thì chỉ còn mình ông là con trai. Tết năm ấy, thay vì mở nhạc quân hành, thì Hà Nội mở Mùa xuân đầu tiên, Bài ca hy vọng. Rạp chiếu phim cũng thay những bộ phim ca ngợi chiến công bằng những bộ phim ẩn chứa tình yêu hoà bình như Con chim vành khuyên, Khi đàn sếu bay qua...

+ Tôi quan tâm hơn tới các bài ông viết về các tác phẩm, các nhà văn khác. Ông đánh giá rất cao Sống mòn của Nam Cao, Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng, Đôi bạn của Nhất Linh, Hồn bướm mơ tiên của Khái Hưng, Thời xa vắng của Lê Lựu. Tôi cũng lưu lại một số tác phẩm khác mà ông thích để tìm đọc: Lạc rừng của Trung Trung Đỉnh, Tấm ván phóng dao của Mạc Can, Cá voi trầm sát của Mai Ninh, Mùa hè năm Petrus của Lê Văn Nghĩa. Ông cũng đặc biệt ca ngợi bản dịch Trăm năm cô đơn của dịch giả Nguyễn Trung Đức.

+ Bảo Ninh ca ngợi thơ Nguyễn Quang Thiều và Trần Anh Thái. Nguyễn Quang Thiều quá nổi tiếng, còn Trần Anh Thái tôi chưa nghe tên bao giờ.

+ Bảo Ninh kể chuyện Nguyễn Tuân là người lớn duy nhất ngăn cản đám trẻ con ném đá các phi công Mỹ bị bắt sống.

+ Bảo Ninh rất "đỏ". Các thành phần đang đấu tố ông nếu đọc các tạp bút của ông chắc sẽ nguôi ngoai phần nào.

+ Bảo Ninh rất hay dùng từ "cố nhiên".

 

Thứ Tư, 10 tháng 12, 2025

Đọc tiểu thuyết

Càng về sau này, tôi càng ít có hứng thú đọc những thứ không phải là tiểu thuyết. Lý do rất đơn giản: tiểu thuyết cho tôi tự tự do tuyệt đối. 

Về sách phi hư cấu: tôi ít còn nhu cầu tìm hiểu một chủ đề cụ thể nên giảm nhu cầu đọc phi hư cấu. Cũng đỡ tốn tiền mua sách và tốn không gian trữ sách. Vả lại, đọc phi hư cấu, nếu không tỉnh táo rất dễ vâng lời tác giả. Tác giả nói thế nào tin thế ấy. Tác giả phi hư cấu trình bày quan điểm của mình, rồi chứng minh cho quan điểm ấy, cố gắng áp đặt quan điểm của mình. Nếu mình không tự phản biện hoặc không đọc đủ rộng, đọc những quan điểm khác, rất dễ bị tác giả dắt mũi.

Trong khi đó, tác giả tiểu thuyết chỉ kể chuyện. Tác giả tiểu thuyết không cố ép người đọc phải suy nghĩ, hành động theo hướng này hay hướng khác. Tiếp nhận như thế nào là quyền của người đọc. Diễn giải như thế nào là quyền của người đọc. Chính vì vậy, khi đọc tiểu thuyết, người đọc tuyệt đối tự do.