Thứ Hai, 20 tháng 4, 2026

Thơ ca là hiện tại

Thơ ca là hiện tại

Tiểu luận của Charles Simic

(Bài phát biểu tại một hội thảo về Octavio Paz và sau được đăng trên tạp chí Western Humanities Review năm 1991)


Suốt cuộc đời mình, Octavio Paz vẫn giữ được sự tự do, không bị cám dỗ bởi nhưng ý hệ không tưởng cũng như nỗi hoài niệm đã lan tràn và giam hãm biết bao người cùng thời với ông.
Có người - tôi quên mất là ai - từng nói rằng để chịu đựng được thời hiện đại của chúng ta cần một bản lĩnh anh hùng. Paz là một trong những anh hùng đích thực của chúng ta. Trong thời đại mà sự bất khả truyền đạt của hầu hết mọi thứ được tôn vinh, ông vẫn suy nghĩ và viết một cách sáng tỏ. Ông hiểu những gì mình biết - điều đó, một lần nữa, khiến ông trở nên khác thường.
Tôi muốn gọi tư duy của ông là sự biện hộ bền bỉ và hùng hồn nhất cho thơ ca mà chúng ta có được.
Thơ ca có cần được biện hộ không? Tất nhiên. Luôn luôn - và đặc biệt là hôm nay.
Tối qua, Octavio Paz nói với chúng ta: “Thơ ca là hiện tại.” Tôi hoàn toàn đồng ý. Đây là ý tưởng táo bạo nhất của thơ ca, và nó có một lịch sử dài, thú vị, mà tôi muốn nói qua đôi chút.
Chúng ta không chắc ai là người đầu tiên, Sappho hay một người cùng thời đã bị lãng quên của bà, nhưng vào thế kỷ thứ bảy trước Công nguyên, ta đã nghe thấy một điều gì đó mới mẻ trong thi ca, một giọng nói trong cô độc, đối với nó, khoảnh khắc hiện tại là tất cả:
Trăng và chòm Pleiades đã lặn,
đêm đã qua đi một nửa,
và thời gian trôi vùn vụt.
Tôi nằm trên giường, một mình.
Trước đó, dĩ nhiên, chúng ta đã có sử thi với tiếng gươm đao va chạm, với những câu chuyện về các vị thần và những anh hùng, cùng nhiều loại hình thơ ca khác, nhưng chưa từng có gì mang âm hưởng giống như Sappho. Trong một bài thơ khác, bà viết:
Tôi nhớ Anaktoria
người đã rời xa tôi
tôi thà được ngắm nhìn dáng đi yêu kiều
và gương mặt trắng ngần tỏa sáng của nàng trước mắt mình
còn hơn là nhìn những cỗ chiến xa của Lydia
rực rỡ trong lớp giáp phục sẵn sàng cho trận đánh
Đột nhiên, thay vì những câu chuyện về thần linh và các vị anh hùng, chúng ta có được cuộc đời của các thi sĩ. Nói cách khác, đó không phải là những gì Zeus hay Achilles làm, mà là những gì một phụ nữ nào đó trên hòn đảo ngoài khơi Tiểu Á cảm nhận trong một đêm thao thức. Giọng nói, cuộc đời và khoảnh khắc vượt thời gian của bà đồng vọng qua nhiều thế kỷ.
Thơ trữ tình đại diện cho một thay đổi lớn trong lịch sử nhận thức và lịch sử văn học. Olga Friedenberg nhận xét rằng nó đánh dấu sự chuyển dịch từ cái nhìn thần thoại hóa sang cái nhìn thực tế về thế giới. Chính trong thơ trữ tình, vũ trụ văn học lần đầu tiên được lấp đầy bởi các cá nhân. Trước đó vẫn luôn tồn tại thơ trữ tình, những bài dân ca do phụ nữ hát, nhưng người kể chuyện trong đó luôn ẩn danh. Sappho đã đưa vào đó đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất, biến trải nghiệm của dân ca thành trải nghiệm cá nhân. Chính phụ nữ là những người đã phát minh ra thơ trữ tình.
Các nhà triết học và thần học đã bị sốc. Giáo hội Công giáo thời sơ khai đã điên cuồng đốt sạch các tác phẩm của Sappho. Ngày nay, chỉ còn lại những mảnh vụn từ các bài thơ của bà. Về cuộc đời bà, chúng ta gần như không biết gì. Một số tác giả cổ đại nói bà là một nữ tư tế, số khác lại bảo bà là một kỹ nữ.
Thật kỳ lạ khi trong thế kỷ của chúng ta, những lời lẽ tương tự lại xuất hiện trong sự lên án đối với nữ thi sĩ người Nga, Anna Akhmatova. Sa hoàng văn hóa của Stalin, Andrey Zhdanov, đã nói rằng: đây là một con mụ tiểu tư sản, nửa nữ tu, nửa điếm. Ông ta cho rằng những bài thơ mang đậm tính cá nhân của bà, pha trộn giữa tính dục và chủ nghĩa huyền bí, là xa lạ với tinh thần của nhân dân Xô viết đang xây dựng chủ nghĩa xã hội.
"Hỡi ý thức, hiện tại thuần khiết nơi mà quá khứ và tương lai cháy mà không có vẻ rực rỡ cũng chẳng có hy vọng. Mọi thứ đều dẫn vào cõi vĩnh hằng này, nơi chẳng dẫn tới đâu cả," Paz đã viết như thế trong một bài thơ.
Thơ ca là khoảnh khắc, là trải nghiệm về một khoảnh khắc trần trụi. Vấn đề không hẳn là mọi thời đại đều đồng thời xảy ra như Ezra Pound từng khẳng định, mà là mọi khoảnh khắc hiện tại trong văn học đều đồng thời xảy ra.
Tuy nhiên, câu chuyện không chỉ dừng lại ở đó. Mệnh đề "thơ ca là hiện tại" mang những tham vọng triết học mà các nhà triết học và thần học cổ đại vốn đã nghi ngại, còn các nhà Marxist thế kỷ XX thì trừng phạt nặng nề.
Đây là những gì các nhà thơ trữ tình muốn nói: Trong khi triết học và thần học đặt câu hỏi Hiện hữu là gì, thì thơ ca cho chúng ta trải nghiệm về Hiện hữu. Các nhà thơ, như chúng ta tin tưởng, đã hết lần này đến lần khác nhắc nhở các nhà triết học về sự hiện diện đầy kinh ngạc và khó hiểu của thế giới này.
Đáng tiếc thay, không nhiều nhà triết học và phê bình văn học đương đại tin vào điều đó. Như Hayden Carruth từng nói với tôi: "Những nhà thơ chúng ta ở nửa sau thế kỷ XX thực chất là những nhà siêu hình học bị đặt sai chỗ của thế kỷ XIX, những người vẫn đang sống trong các vùng tư tưởng mà các nhà triết học đã tháo chạy vì bối rối, tuyệt vọng và cả sự khiêm tốn giả tạo." Ông ấy dĩ nhiên là đúng. Đối với một số người, thơ ca chẳng qua chỉ là tiếng huýt sáo trong bóng tối.
"Không có hiện diện nào cả," nhà phê bình lỗi lạc Geoffrey Hartman tuyên bố, "chỉ có sự tái hiện, và tệ hơn, là các sự tái hiện." "Không có gì nằm ngoài văn bản," Jacques Derrida nói. Họ khẳng định rằng các nhà thơ đang sa đà vào cái quan niệm kiểu tư sản rằng các ký hiệu là minh bạch, rằng chúng chỉ dẫn đến một thực tại đích thực. "Một sự cám dỗ đầy mê hoặc đối với những tâm hồn mê muội," Paul de Man quả quyết với chúng ta.
Do đó, giá trị chân lý của thơ ca bằng không. Người ta hân hoan bảo với chúng ta rằng mọi hình ảnh và ẩn dụ của các nhà thơ chỉ đơn thuần trỏ ngược về chính ngôn ngữ mà thôi. Plato từng giam cầm chúng ta trong hang động để chứng minh sự vô tri và tình cảnh khủng khiếp của con người, nhưng trong nhà tù ngôn ngữ ngày nay, các nhà triết học của chúng ta lại cảm thấy hạnh phúc.
Ngôn ngữ không phải là nhà tù duy nhất. Chúng ta bị tống giam, như lời họ nói, vào những nhà tù của giai cấp, chủng tộc, giới tính, văn hóa, vân vân. Cảnh quan trí thức ngày nay là cảnh quan của những nhà tù, những trại giam an ninh nghiêm ngặt và những gulag triết học.
Những quan niệm như thế nghe có vẻ hợp lý nếu ta quên đi nhiều điều về văn chương, và nhất là nếu ta quên đi dịch thuật. Làm sao mà thơ Hy Lạp cổ đại vẫn khiến ta xúc động nếu không có những trải nghiệm phổ quát? Như người bạn của tôi, Mark Strand, và tôi đã nhận ra từ nhiều năm trước, thơ ca không phải là cái bị mất đi, mà là cái còn lại trong bản dịch.
Tôi đồng ý với Octavio Paz rằng không thể là một nhà thơ nếu không tin vào sự đồng nhất giữa từ ngữ và ý nghĩa của nó. Có một cái gì đó vượt ra ngoài ngôn ngữ mà mỗi bài thơ đều phải dựa vào để tồn tại. Lời than phiền rằng ngôn ngữ giả vờ khiến sự vật hiện diện trước chúng ta nhưng luôn thất bại trong việc đó, điều này không có gì mới mẻ với các nhà thơ. Đúng, viết làm biến dạng sự hiện diện. Đúng, có một vực thẳm giữa từ ngữ và kinh nghiệm về sự hiện diện mà bài thơ cố gắng gọi tên. Thế nhưng, chúng ta vẫn có một ý niệm khá rõ về điều mà Sappho và Anna Akhmatova nói.

“Trong khoảnh khắc thời gian khi giọt nhỏ hình thành mà chưa rơi xuống,” - Theodore Roethke viết. Thơ Mỹ đã bị ám ảnh bởi sự hiện diện và chân lý hữu hình kể từ thời của Ralph Waldo Emerson và Walt Whitman. “Bằng chân lý hữu hình, chúng ta muốn nói đến sự lĩnh hội trạng thái tuyệt đối của những sự vật hiện tại,” Herman Melville viết trong một bức thư gửi Nathaniel Hawthorne. Chủ đề của phần lớn thơ Mỹ là nhận thức luận về sự hiện diện. Robert Frost, Wallace Stevens và William Carlos Williams đều có thứ để nói về điều đó. Bài thơ tuyệt vời “Self-Portrait in a Convex Mirror” của John Ashbery là một suy niệm về câu đố ấy, “kẻ xa lạ ấy,” như ông gọi, “hiện tại câm lặng, không bị chia cắt.”
“Để mở khóa khoảnh khắc, để/xuyên vào những căn phòng sững sờ của nó…” (lại là Paz). Đây là điểm nơi thời gian và vĩnh cửu, lịch sử và ý thức gặp nhau, một mảnh vụn của thời gian bị ám ảnh bởi toàn thể thời gian. Hiện tại là nơi duy nhất chúng ta trải nghiệm cái vĩnh cửu. Cái vĩnh cửu co lại bằng kích thước của hiện tại, bởi chỉ có hiện tại mới có thể được con người nắm bắt.
Trong bản chất của nó, một bài thơ trữ tình là về thời gian bị ngưng lại. Ngôn ngữ vận động trong thời gian, nhưng xung lực trữ tình thì mang tính thẳng đứng. Dĩ nhiên, không thể thực sự nói được sự hiện diện là gì; người ta chỉ có thể cố gắng nói nó giống như thế nào. Đôi khi - và đây là một nghịch lý - chỉ những tưởng tượng hoang dã nhất mới có thể bắc cầu qua vực thẳm giữa từ và vật.
Thơ ca lớn lên nhờ những mâu thuẫn như thế. Chẳng hạn, người ta vừa sử dụng ngôn ngữ, vừa bị ngôn ngữ sử dụng. Tôi yêu cảm thức về khoảnh khắc của Sappho, nhưng tôi cũng có những gã khổng lồ một mắt của Homer, những quái vật nhiều đầu, chưa kể những người phụ nữ mình cá hát hay đến mức các thủy thủ phải nhét sáp vào tai nếu không sẽ phát điên, cùng với bao phát minh kỳ diệu khác của ông. Điều tuyệt vời nhất của thơ ca là nó làm các ông thầy, các nhà giảng đạo và những kẻ độc tài tức điên và khiến phần còn lại của chúng ta sướng rỡ.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét