Thứ Năm, 4 tháng 3, 2010

Có sách mới áo hoa...

- Chuộc tội: Tiểu thuyết của Ian McEwan, Nguyễn Hạnh Quyên dịch từ nguyên bản tiếng Anh Atonement. Ian McEwan là nhà văn Anh từng đoạt giải Man Booker năm 1988. Tiểu thuyết này được dựng thành phim năm 2007 với sự góp mặt của Keira Knightley. Lưu ý phim này hoàn toàn khác với "phim hành động cực đỉnh" của Tạ Đình Phong cùng tên! Tiểu thuyết được chia thành ba phần trong đó phần 1 chiếm hơn nửa cuốn sách và là phần đặc sắc hơn cả với những trường đoạn về tâm lý, tình cảm của một cô bé viết văn 13 tuổi.

- Phía sau nghi can X: Tiểu thuyết trinh thám của Higashino Keigo, Trương Thùy Lan dịch từ nguyên bản tiếng Nhật. Rất nên đọc để biết vì yêu người ta có thể làm những gì.

- Kim tuyến đỏ: Tập thơ của Khương Hà, một thành viên trong nhóm Ngựa Trời, người có lần "mơ được chết trôi trên sông Sài Gòn". Lưu ý là nhà thơ tuy mơ nhưng vẫn có chọn lọc: sông Sài Gòn chứ không phải kênh Ba Bò hay sông Thị Vải! :)

- 1000 năm Thăng Long Hà Nội: Sách được viết dưới dạng hỏi đáp của nhà Hà Nội học Nguyễn Vinh Phúc. Sách dày hơn ngàn trang, chắc chắn không để dành đọc trong một lần. Vì vậy, nếu có thêm phần chỉ mục (index) thì tốt hơn cho người đọc. Đồng chí biên tập NXB Trẻ ghi nhận góp ý này nhé.

- Bí ẩn nĩa ba răng: Tiểu thuyết trinh thám của Fred Vargas, Đỗ Hà Thảo dịch. Trước cuốn này, tôi có đọc Trong những cánh rừng vĩnh cửu cùng tác giả. Cả hai đều hấp dẫn. Nếu như trong Trong những cánh rừng vĩnh cửu, tới giờ chót độc giả mới bất ngờ khi biết thủ phạm là ai, thì trong Bí ẩn nĩa ba răng kẻ giết người được xác định từ đầu, phần còn lại chỉ là tìm bằng chứng để thuyết phục mọi người rằng hắn chính là hắn. Ngoài ra, đọc tiểu thuyết trinh thám của Fred Vargas là còn được đọc cả văn chứ không phải chỉ đọc truyện.

- Haroun và biển truyện: Tiểu thuyết đầu tiên của Salman Rusdie được dịch ra tiếng Việt. Người dịch là Nham Hoa, cũng là người dịch Di sản của mất mát.

- Sushi cho người mới bắt đầu của Marian Keyes: Không biết tác giả là ai cũng như chưa bao giờ nghe nói tới cuốn này trước đây, nhưng có thể đoán là một dạng tiểu thuyết nhẹ nhàng thích hợp đọc trong lúc chờ nhổ răng hoặc đuổi ruồi đợi khách.

- Những câu chuyện Sài Gòn: Tập truyện thứ tư trong vòng ba năm của Phan An, một người Hà Nôi đang mê mải với Sài Gòn. Cứ nhìn bìa sách thì thấy rõ điều đó! (Bìa sách có hình Nhà thờ Đức Bà và chân dung một cô gái chụp nghiêng.)

- Tippi hoang dã: Truyện về cô bé Tippi rất chi hoang dã với những hình ảnh tuyệt đẹp do NXB Kim Đồng xuất bản.

Cảm ơn các bạn dịch giả, tác giả, mà chủ yếu là độc giả đã tặng bạn Goldmund những cuốn trên. Chân thành cảm ơn và mong muốn tiếp tục được tặng những cuốn khác.

Còn dưới đây là những cuốn tuy mua mà như được cho, sách cũ mà như sách mới:

- The Island of the Day Before của Umberto Eco;
- Naked Lunch của William S. Burroughs;
- This Boy's Life của Tobias Wolff;
- Selected Non-fictions của Jorge Luis Borges.

Cảm ơn nhà tài trợ nhưng không biết bao giờ mới ngốn xong! :)


Thứ Hai, 1 tháng 3, 2010

Singapore thêm một lần tôi đến

Cứ mỗi lần đến Singapore, khi ngồi trên taxi từ sân bay về trung tâm thành phố, khi những tán cây xanh vù vù trôi qua mắt, là tôi lại lẩm nhẩm câu hát tự chế nhại theo Bob Dylan: How many trees that you have planted/ before you become so green? (Bob Dylan: How many roads that a man walk down/ before you call him a man?). Tôi hình dung ra rằng ở Singapore này có lẽ người ta chẳng làm việc gì khác ngoài việc trồng cây, tưới cây, tỉa cành, bón phân và thậm chí trèo lên từng cái cây một để lau bằng sạch từng hạt bụi bám trên từng chiếc lá, nếu không sao cây lại nhiều, xanh và sạch thế kia? Tất nhiên đấy là một hình dung cực đoan và hết sức ngớ ngẩn, vì rằng chẳng có quốc gia trên thế giới nào mà toàn dân dành toàn bộ thời gian vào việc trồng cây cả. Đảng, Nhà nước và nhân dân Singapore còn nhiều việc khác để làm. Chỉ trồng cây không thì GDP đầu người không xếp ở vài hạng đầu thế giới được. Lúc ăn tối ở nhà H, tôi đem chuyện cây cối ra hỏi. H cười, bảo, tại vì Lý Quang Diệu của chúng tao rất thích trồng cây. Tôi nói Hồ Chí Minh của chúng tao cũng thích trồng cây, thậm chí còn phát động Tết trồng cây và nói “Vì lợi ích mười năm trồng cây”, nhưng rất buồn trên đất nước chúng tao rừng mất đi từng ngày, cây xanh giữa Hà Nội qua đêm còn trơ gốc còn ở Sài Gòn có công viên nháy mắt trở thành nhà chọc trời.

H là đồng nghiệp của tôi ở Singapore. Chúng tôi vào công ty cùng năm, H trước vài tháng. Có lẽ nhờ đó, và có lẽ nhờ tính tình đều tếu táo nên chúng tôi khá hợp nhau, mặc dù một năm gặp nhau chỉ một, hai lần. Chẳng gì vui hơn khi nói xấu sếp và công ty mà có người tán thưởng! Đùa tí, chứ sếp của tôi và H cũng tếu táo chả kém, đặc biệt có khả năng nói đùa mà không thay đổi giọng cũng như nét mặt. Lần này sang Singapore, H mời chúng tôi đến nhà ăn tối. H tự tay làm món risotto – một món cơm trộn nấm và vang trắng kiếu Ý - và bò rô-ti khá ngon (vợ H không thích và không biết nấu ăn – con gái Sin điển hình); còn sếp, một chuyên gia rượu vang có bộ sưu tập hơn ngàn chai, mang đến hai chai vang lâu năm, một chai mua ở Tokyo và chai kia ở London – cả hai chai đều hơn tôi vài tuổi. Sếp bảo chẳng ai khui vang để uống một mình, và vang ngon thì phải có bạn uống cùng. Tôi đọc cho sếp câu thơ Nguyễn Khuyến: Rượu ngon không có bạn hiền - sếp gật gù thích thú.

Tôi mang cho cả H và sếp mỗi người hai gói cà phê Trung Nguyên số 5 – loại tôi thích, khuyến mãi thêm một cái lọc cà phê. Cà phê Việt Nam nói chung và Trung Nguyên nói riêng nhiều loại ngon, bạn bè nước ngoài rất thích. Tôi muốn tìm loại có bao bì đẹp và sang một tí để làm quà, nhưng rất tiếc không có, nên đành mua loại vẫn thường pha ở nhà. Tôi nghĩ các hãng cà phê, trà, bánh kẹo Việt Nam nên đầu tư hơn vào bao bì sao cho thật bắt mắt thì sẽ nhiều cơ hội mở rộng thị phần ở các nước lân cận. Nhất là cà phê. Việt Nam có một văn hóa cà phê độc đáo so với các nước trong khu vực, nếu đầu tư vào việc quảng bá văn hóa này cơ hội thành công là không nhỏ. Rất nhiều bạn bè nước ngoài của tôi khi đến Việt Nam đều rất mê cà phê Việt Nam, nhưng không dễ để mua được cà phê và phin cà phê kiểu Việt Nam ở ngoài Việt Nam. Tôi thấy có một quán cà phê Trung Nguyên ở một trung tâm thương mại ở Singapore; nhưng đấy là một trung tâm nhỏ, tương đối vắng khách, còn những trung tâm sầm uất hơn thì chưa thấy.

Sếp hỏi chúng tôi có thấy lạ không khi ở Singapore muốn băng qua đường phải bấm vào đèn hiệu, tất nhiên kèm theo câu hỏi là cái nháy mắt tinh nghịch. Tôi làu bàu đây không phải lần đầu chúng tôi bước chân vào thế giới văn minh, biết rằng sếp chỉ hỏi kháy để tưởng nhớ những lần tim đập thình thịch băng qua đường phố Sài Gòn. Chúng tôi chuyện vãn những gì mà đến tận 12 giờ khuya sau khi cạn hai chai vang đỏ của sếp, một chai vang trắng và sâm-banh của chủ nhà mới về. Sau khi uống hết từng ấy thì tôi không nhớ lắm những chuyện đã nói, chỉ biết rằng đã cười rất nhiều.

Bất cứ người Singapore nào gặp chúng tôi cũng hỏi rằng chúng tôi đã vào casino mới mở trên đảo Sentosa chưa, có lẽ vì đây là casino đầu tiên được phép hoạt động ở Sin và vì người nước ngoài được vào miễn phí còn người Sin phải trả tiền vé vào cửa 100 đô. Chúng tôi có ra Sentosa, nhưng không vào casino vì không quan tâm lắm, vả lại chúng tôi cũng chẳng có nhiều thời gian.

Sentosa, cái đảo ấy có rộng lớn và xinh đẹp gì mấy đâu, nhưng người Sin đã khéo léo biến hòn đảo thành một trung tâm vui chơi giải trí khổng lồ. Điều đáng nói là giữa rất nhiều công trình xây dựng họ vẫn khéo léo chừa lại một mảnh rừng con con được giữ gìn nguyên vẹn. Nếu so với những khu rừng nổi tiếng ở Việt Nam như Cúc Phương hay Nam Cát Tiên về diện tích hay mức độ đa dạng sinh học, cái được gọi là rừng ở Sentosa chỉ là một trò đùa không hơn không kém – chẳng khác gì so sánh bonsai với cổ thụ. Tuy nhiên, có thể thấy người Sin trân trọng và biết cách sử dụng không phải tận dụng cây bonsai của mình gấp ngàn lần. Trước khi vào “rừng” có một căn phòng lớn trưng bày hình ảnh của những cây cối và động vật trong rừng với chú giải chi tiết rất thích hợp cho mục đích giáo dục. Chúng tôi gặp khá nhiều học sinh đi tham quan rừng ngày hôm ấy. Số chủng loại cây và động vật ở đây thật ra có thể đếm trên đầu ngón tay: vài loại chim, thêm vài loại kiến, nhện – những thứ mà hẳn ở Việt Nam chúng ta không buồn nhắc đến. Trong rừng, cứ độ vài mươi mét lại có một bảng cung cấp thêm thông tin về các loài động thực vật, không quên kèm lời nhắc nhở người đi dạo phải nói khẽ cười duyên, chỉ được phép để lại dấu chân và “lấy đi” (chụp) những bức ảnh (leave only footprints and take only photos). Những học sinh đi thăm rừng ở đây chắc không học được nhiều về động vật hay thực vật, nhưng sẽ học được nhiều về cách ứng xử với thiên nhiên. Đi một lúc, chúng tôi ồ lên vui sướng khi phát hiện ra có hai vỏ lon nước ngọt bị quăng lăn lóc. Thì ra ở Singapore cũng có rác!

Buổi sáng cuối cùng ở Singapore, chúng tôi chỉ kịp ghé Borders mua vài cuốn sách và ăn sáng uống cà phê với một em gái xinh đẹp rồi lại vội vàng ra sân bay bay về lại với thế giới của mình. Sài Gòn thật ra chỉ cách Singapore chưa tới hai giờ bay…

Chủ Nhật, 28 tháng 2, 2010

Hà Nội thêm một lần tôi đến (IV)


Kem Tràng Tiền

Có một bạn gái Hà Nội khá nổi tiếng – xin phép không nêu tên – bảo với tôi rằng cả đời bạn ấy chỉ thích ăn kem ở hai nơi: thứ nhất là Roma, thủ đô của Ý và thủ đô của kem, và thứ hai là Tràng Tiền. Đúng là ra Hà Nội không thể không ăn kem Tràng Tiền. Và ăn kem Tràng Tiền cứ phải lựa những ngày rét nhất ăn mới thú. Vừa gặm kem, vừa co ro vừa đánh đàn răng, kể cũng là một thú vui tao nhã. Dễ hiểu vì saao trời lạnh buốt tai mà trai gái cứ lũ là lũ lượt vào Tràng Tiền xếp hàng mua kem, và cũng dễ hiểu vì sao các cô bán kem đứng tuổi mặt đăm đăm lạnh hơn kem mà vẫn đắt hàng.

Quán kem Tràng Tiền – gọi đúng là cửa hàng kem Tràng Tiền – có thể là một quán kem thuộc loại độc nhất vô nhị trên thế giới. Kem ngon, và bán với giá chỉ 5.000 nghìn/que. Chắc chẳng ở đâu khác có kem ngon mà rẻ như thế. Cửa hàng nằm trên đường Tràng Tiền – một phố trung tâm Hà Nội, diện tích khá rộng, đủ chỗ để người đến mua kem cho hẳn xe máy vào trong nhà, mua kem, đứng ăn kem, xong rồi dắt xe ra. Nếu bạn không tắt máy xe tức thì có một anh bảo vệ đeo băng đỏ nhắc nhở bằng loa. Trên tường, có treo một bảng thông báo rất to về việc kem Tràng Tiền đã đăng ký bảo hộ thương hiệu, cùng hai bức tranh in trên loại vải thường dùng để in poster, một tranh vẽ (hay chụp) một đài phun nước và tranh kia một vườn hoa nhiều màu. Quán có một WC dạng ngồi xổm dùng chung cho cả nam lẫn nữ. Có lẽ vì khách đến quán ăn kem chỉ chừng 5, 10 phút tối đa mà lại không uống nước gì nên không nhất thiết phải cần nhiều hơn thế.

Độc đáo hơn cả là một bản Nội quy dành cho khách hàng. Nội quy có những nội dung đại loại như phải xếp hàng, không chen lấn, không làm mất trật tự, không được xả rác lung tung. Nói chung, đó là những quy tắc ứng xử thường được hiểu ngầm ở những nơi công cộng khác, ở đây được văn bản hóa, in chữ to và treo trên tường, dưới có ký tên Ban giám đốc. Không thấy quy định vi phạm thì bị chế tài thế nào.

Mồng 5 Tết, tôi và người yêu gửi con cho ông bà ngoại trông rồi tết ra Tràng Tiền ăn kem. Hì hục mãi người yêu cũng mua được mỗi người một que kem cốm và một que kem sô-cô-la. Cả Tết, ăn mãi miến với măng rồi nên ăn kem thật thích. Đứng lẫn giữa các nam thanh nữ tú Hà thành, chúng tôi mút kem xong rồi đi bộ ra Đinh Lễ - Nguyễn Xí mua sách giảm giá theo đúng phong cách Nam tiến thương nhớ mười hai. Sách giảm giá thì Sài Gòn cũng có nhưng mua sách ở đây vẫn có cảm giác hay hay. Chị hàng sách một năm gặp hai lần vẫn nhớ mặt chúng tôi. Sau một hồi lục lọi chúng tôi ra về với một túi sách nặng trĩu.

***

Mồng 7 Tết, chúng tôi tạm biệt Hà Nội giá rét để bay về phương Nam đầy nắng. Nhại thơ Nguyễn Duy, tôi ngâm nga: Hà Nội thêm một lần tôi đến.

Đến để rồi đi.

* Thơ Nguyễn Duy: Sông Thao thêm một lần tôi tắm/ Thêm một lần tôi đến để rồi đi.

Thứ Năm, 25 tháng 2, 2010

Blog của năm

Đang yên đang lành tâm hồn đang tỉnh táo ngay ngắn thì chả làm việc này làm gì. Nhưng thấy có bác trao giải tưng bừng, nhịn không được bèn vùng dậy trao ngay cái giải cho blog. Giải được trao dựa vào các tiêu chí sau:

  • Cập nhật thường xuyên: Blog một tháng có một hai bài dĩ nhiên không thể nhận giải Blog của năm được. Nếu có bài hay may ra nhân được giải entry của năm.
  • Lượng người đọc: Blog hay không hẳn nhiều người đọc và blog nhiều người đọc chưa hẳn đã hay. Nhưng đã gọi là Blog của năm mà người đọc thưa thớt coi sao đặng.
  • Lượng comment: Blog không tương tác thì chán.
  • Ngôn ngữ sáng tạo: Chẳng ở đâu mà ngôn ngữ có thể được sáng tạo không giới hạn như blog. Người viết có quyền chen tiếng Tây, tiếng Tàu, tiếng lóng, tiếng bịa. Nếu blog chỉ chăm chăm dùng ngôn ngữ chính thống thì thà đọc Nhân Dân.
  • Đề tài cập nhật: Dĩ nhiên viết blog có thể viết trên trời dưới đất chuyện xưa chuyện nay chuyện đông chuyện tây chuyện con mèo yêu lười ăn hay tóc rụng thêm một sợi, nhưng gì gì cũng phải thời sự một tí.
  • Không giống báo: Viết blog mà như viết báo thì đọc báo chứ đọc blog làm gì.
  • Hài hước: Tiêu chí này được đánh giá cao nhất. Râu mũ đạo mạo đâu chả có.

Xét tất cả những tiêu chí trên, rất tiếc giải Blog của năm không thuộc về 5xu, hu hu. Giải Blog của năm thuộc về blog này. Anh này viết hàng ngày, entry nào cũng bốn năm trăm còm, sử dụng nhuần nhuyễn các thủ thuật hậu hiện đại, và hầu như entry nào cũng có gì đó làm người ta buồn cười, thiên vị rõ rệt nhưng rất biết điều và hết sức duyên dáng. Anh ta viết về đội bóng Arsenal!

Thứ Tư, 24 tháng 2, 2010

Thomas Mann và tình yêu đồng tính không bao giờ thỏa mãn

Bài viết này chôm chĩa từ Facebook của anh Đinh Bá Anh.

"Này, này, tôi nói cho nhà anh biết nhé. Chồng tôi, phải, chồng tôi, Thomas Mann, là nhà văn tiếng Đức vĩ đại nhất của mọi thời đại. Sách của ông ấy bán được nhiều hơn và được đánh giá cao hơn cái tay... Franz Kafka ấy nhiều lần! Anh đã hiểu chưa? Hả?" - Katia Mann

Trên đây là phát biểu của Katia Mann, vợ và là nhà quản lý toàn bộ cuộc đời và sự nghiệp lẫy lừng của Thomas Mann. Mặc dù là một phụ nữ "ba đảm đang" đúng tiêu chuẩn Đức (phụ nữ 3K: Kinder, Küche, Kirche: con cái, bếp núc, nhà thờ) và tẻ nhạt đến mức không thể tẻ nhạt hơn, song phát biểu của Katjia Mann lại hoàn toàn đúng.

Thật vậy, Franz Kafka không phải là nhà văn hiện đại Đức ngữ được người Đức sùng bái nhất. Hermann Hesse lại càng không. Cũng không phải Elias Carnetti, không phải Robert Musil, không phải Alfred Döblin, không phải Arthur Schnitzler, không phải Friedrich Dürrenmatt, không phải Günter Grass. Mà chính xác là Thomas Mann. Có lẽ chỉ Bertolt Brecht là được sùng bái tương tự, nhưng Brecht không thể so được với Mann về phương diện này do các dính líu chính trị có phần bẽ bàng của ông.

Cuộc hôn nhân của Thomas Mann là cuộc hôn nhân được tính toán chủ động, lạnh lùng và chính xác, y như cuộc hôn nhân của Goethe vậy. Rất cụ thể: Mann cần một người thu vén gia đình, hoàn toàn qui phục và tôn thờ ông, để quản lí cuộc đời ông. Katia là người như vậy. Tất nhiên, để có được Katia thì Thomas Mann vẫn cần phải có một lời tỏ tình, và đấy không thể là một trở ngại. Nói dối - trong đó có việc tỏ tình y như thật - đối với nhà văn là chuyện tự nhiên hơn mọi sự trên đời.

Thực ra, tình yêu duy nhất, nóng bỏng nhất và dai dẳng nhất trong cuộc đời dài cần mẫn của Thomas Mann là tình yêu dành cho các chàng trai vị thành niên. Chỉ có thân thể và tâm hồn của các chàng thiếu niên là thực sự gây cảm hứng cho Mann. Song ông đã dùng ý chí lì lợm của mình để đè bẹp khuynh hướng này khiến nó không bao giờ được phát lộ thành hành động thực tế.

Thực ra, tôi không bao giờ hiểu được giữa Mann và Kafka, ai bất hạnh hơn ai?