Thứ Tư, 15 tháng 1, 2025

The Hour of the Star - Clarice Lispector

Cuốn sách mỏng The Hour of the Star của Clarice Lispector làm tôi sửng sốt. Clarice Lispector là nhà văn Brazil. Bà sinh ra ở Ukraina và di cư sang Brazil từ nhỏ. Bà sinh năm 1925 và mất năm 1977. Bà được coi là một trong những nhà văn giàu ảnh hưởng nhất của Brazil. Đây là cuốn đầu tiên tôi đọc của bà. Tôi từng cầm lên cầm xuống một cuốn khác, The Passion according to GH, nhiều lần nhưng chưa thật sự bắt tay vào đọc. Không phải nó không hay, chỉ là chưa phải lúc. Đọc sách, quan trọng là đọc đúng lúc. Có rất nhiều sách trên đời, cũng có rất nhiều sách trong nhà, đọc cuốn nào vào thời điểm nào còn là duyên. Duyên đưa đẩy tôi đến cuốn sách mỏng này, vào những ngày có lẽ cuối cùng của đợt phong tỏa khắc nhiệt nhất quả đất.

Cuốn sách viết về một cô gái Brazil nghèo, xấu, ít học, một nhân vât bên lề xã hội. Cô chẳng có gì, ngoài một gã bạn trai cà chớn mà cô cũng mất nốt. Cuốn sách viết về cái gì, do vậy không phải là điều đáng kể, mà vấn đề là cuốn sách đã được viết như thế nào. Nó đã được viết trong sự giằng xé về sự viết. Vừa kể chuyện, người kể chuyện lại liên tục tự tra vấn, giằng xé chính mình, tại sao tôi viết như thế này, tại sao nhân vật tôi như thế này, tôi sắp sửa làm gì với nhân vật của tôi. Tác giả, thông qua người kể chuyện, như vậy không ngừng thông báo sự hiện diện của mình trong cuốn tiểu thuyết. Kỹ thuật này làm tôi nhớ tới Kundera và Sự bất tử. Nhưng Lispector viết cuốn này sớm hơn nhiều, quãng giữa thập kỷ 70.

Thật ra, tôi chỉ định copy đoạn mở đầu của cuốn sách, mà tôi thấy được viết rất tuyệt. Dĩ nhiên đây là bản dịch tiếng Anh. Bản gốc là tiếng Tây Ban Nha.

"Everything in the world began with a yes. One molecule said yes to another molecule and life was born. But before prehistory there was prehistory of prehistory and there was the never and there was the yes. It was ever so. I do not know why, but I do know that the universe began."

Còn đây là đoạn kết:

"And now - now it only remains for me to light a cigarette and go home. Dear God, only now am I remembering that people die. Does that include me?
Don't forget, in the meantime, that this is the season for strawberries. Yes."

Tản mạn những ngày AODOYOD

Suốt những ngày ai ở đâu ở yên đó, trời Sài Gòn trong veo. Chỉ số ô nhiễm trên Air Visual thường xuyên xanh ngắt. Trên app, Sài Gòn xanh như Sydney, như Montreal, như London. Chiều chiều, sau giờ làm việc, tôi hay ra ngồi ban công. Nhìn sang các căn hộ khác, cũng có nhiều người ngồi ở ban công, những ban công vốn thường chỉ là nơi phơi quần áo.

Có tiếng đàn piano chập chững từ căn hộ nào đó vọng sang. Trước kia, hiếm khi nghe âm thanh từ hàng xóm. Một phần, có lẽ khu căn hộ này cách âm tương đối tốt, phần khác, khi bận rộn với những âm thanh của riêng mình, ta ít khi nghe được những âm thanh khác từ bên ngoài.

Đêm, côn trùng dường kêu to hơn. Hay có lẽ chúng cũng kêu to như bình thường - chúng chưa từng chịu đựng cảnh bị giam trong bốn bức tường - chỉ có đôi tai ta là nhạy cảm hơn. Có một lần, tôi choàng dậy vào nửa đêm vì tiếng côn trùng inh ỏi, vớ tay lấy điện thoại để ghi âm dàn hợp xướng côn trùng. Sáng dậy xem lại máy, thấy không có bản ghi âm nào cả. Hay ai đó đã thức dậy trong đêm, không phải tôi? Lẽ nào lũ côn trùng không có thật.

Cách đây hai hôm, sáng mới ngủ dậy, vận hết lòng dũng cảm, tôi đi bộ hơn hai trăm mét ra đầu ngõ. Lần đầu tiên sau hơn hai tháng tôi đi xa nhà tới thế. Nhìn tới lui không thấy bóng đồng phục nào, chỉ vài xe tải con chở hàng lao vun vút, tôi dấn thêm một chút, băng hẳn qua bên kia đường, tiến sát tới mé sông. Con sông còn đó, vẫn bồng bềnh chảy, vài cánh chim chao liệng trên mặt nước. Tôi hít một hơi dài không khí mát mẻ buổi sớm mai, rồi lại một hơi dài, một hơi dài nữa. Yên chí dòng sông vẫn còn đó, chưa bị mang đi cách ly tập trung, tôi khấp khởi trở về nhà.

Bạn nhắn tin, nói vừa được đặc cách đi một vòng thành phố. Những bậc thềm trước bưu điện trung tâm nơi khách du lịch thường chen chân check-in, học sinh cuối cấp hay tụ tập chụp ảnh lưu niệm, giờ phủ đầy rêu xanh, các khe đá cỏ mọc lún phún. Giãn cách thêm ít bữa, biết đâu cây mọc thành rừng, thú dữ về trú ngụ, bạn đùa. 

Vài hôm nữa, gặp nhau, ta sẽ nói gì?  Không biết giọng có cất lên thành tiếng, hay lời chưa ra khỏi miệng lại bị nuốt vào trong, như một nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư? 

Bao giờ cho đến tháng Mười

Hà Giang là vùng đất gây nghiện. Tôi biết tới Hà Giang hơi muộn nhưng kể từ khi biết thì 4 năm liền tôi đều có những chuyến đi tới đây, và khi rời đi rồi thì vẫn mong quay trở lại, đi nhiều hơn, đi sâu hơn, ở lâu hơn, vào những thời điểm khác nhau trong năm.

Chính vì mê Hà Giang như thế mà trong một chuyến bay ra Hà Nội gần đây tôi chọn xem phim Chuyện của Pao, để được xem lại cảnh vật Hà Giang, xem ngôi nhà mà tôi từng tới nhiều năm sau khi bộ phim được quay. Ngôi nhà ấy thật đẹp, và bộ phim thật dở. Ấy vậy mà hình như nó đã từng đoạt một cái giải gì đấy. Cô diễn viên chính Hải Yến đóng xuất sắc vai một cô gái Kinh khoác lên người bộ váy áo H'Mông. Cô chẳng bao giờ thuộc về phong cảnh ấy, vùng đất ấy, và nét mặt của cô thể hiện điều đó thật rõ ràng, khiến ta không một chút mảy may nghi ngờ rằng cô chỉ là một cô gái dưới xuôi ghé thăm bộ phim trong chín mươi phút. Là tôi đồ rằng thế, chứ phim dở như thế tất nhiên tôi sẽ không xem hết. Tôi thật sự rất ngại những đoạn thoại rõ mồn một, đều đều, không cảm xúc, như đọc kịch bản trên đài phát thanh, chứ không phải do người thường nói. Cảnh nọ chuyển cảnh kia toàn cắt cụp, cắt cụp, rất dễ gây mất hứng, mà tôi không thích bị mất hứng trong mọi hoàn cảnh.

Trên chuyến bay về, tôi chọn xem một bộ phim Việt Nam khác, Bao giờ cho đến tháng Mười. Đó là một lựa chọn hoàn toàn ngẫu nhiên, chỉ vì tôi luôn nhớ cái tựa phim đã trở thành thành ngữ này, mà chưa bao giờ xem. Quá may mắn, vì đó là một bộ phim tuyệt hay. Hiếm có bộ phim Việt Nam nào chân thực và xúc động như thế, mặc dù phim đen trắng, làm từ năm 84, xem trên môi trường máy bay thì cũng không phải là lý tưởng. Lê Vân quá đẹp và diễn xuất xuất sắc, người xem tưởng có thể chết chìm trong đôi mắt cô. Các vai phụ, kể cả vai quần chúng, đều diễn rất tốt, không gây ra cảm giác bực mình thường có hay xem phim Việt. Điểm trừ duy nhất của phim là âm nhạc, nó phô trương và ồn ào vô cớ, về nhà tìm hiểu thêm thì hóa ra nhạc của Phú Quang.

Chuyến bay hạ cánh khi phim chưa kết thúc nên về nhà tôi vội trèo lên Youtube xem tiếp. Cho tới giờ này trên Youtube vẫn còn bộ phim ấy, mọi người nên xem. Cơn cuồng Bao giờ cho đến tháng Mười của tôi đã lây sang housemate của tôi, thế nên cô ấy lập tức post một status về bộ phim mà tôi hoàn toàn cam đoan rằng đó là ý tưởng của tôi.

Trở về thung lũng tối

Đọc tiểu thuyết giống như du hành: nếu đi đến phương xa, ngắm một cảnh đẹp, thưởng thức một món ăn ngon, có cảm giác thích thú thế nào, thì khi người đọc tiểu thuyết tìm được một cuốn sách lạ và hay từ một nền văn học xa xôi cũng sảng khoái như vậy.

Colombia không quá xa lạ với người đọc Việt Nam. Tình yêu thời thổ tảTrăm năm cô đơn cùng nhiều cuốn khác của Garbiel Garcia Marquez là món quen của người đọc văn học Việt. Thậm chí tôi nghe đồn tác giả Chết trong ngày Chúa nhật đọc Trăm năm cô đơn không dưới mười lần. Hay tôi nhầm, là nhân vật của anh ta chăng, trong Chung một cuộc tình? Dù sao đi nữa, thì Nguyễn Nguyên Phước là số rất ít nhà văn mà tôi luôn mong chờ tác phẩm. Thật đáng hổ thẹn cho nền phê bình Việt Nam khi chưa lấy có một bài viết tử tế về Một chuyến đi Nhà máy sản xuất linh hồn. Và cũng thật hổ thẹn cho nền xuất bản Việt Nam, vì bất cứ lý do gì, không in được Chết trong ngày Chúa nhật. Nhưng ngoài G.G. Marquez ra thì ta biết gì về Colombia? Vaderrama tóc bồng bềnh hay Escobar phản lưới nhà trả giá bằng sinh mạng? Cả hai, tiếc thay không viết tiểu thuyết.
Một ngày đẹp trời nọ (dạo này trời thường đẹp, có lẽ vì ít người ra đường, ít xe cộ đua nhau nhả khói khiến trời cứ xanh ngăn ngắt), hoặc cũng có thể không đẹp lắm, quan trọng gì đâu khi đã cắm đầu vào màn hình, sau khi hì hục tìm mãi không ra password Amazon của mình, reset kiểu gì cũng không được, tôi đành đăng ký tài khoản mới để kết nối với cái Kindle mới được tặng (đa tạ). Trời xui đất khiến thế nào mà đập vào mắt là một cuốn e-book giá chỉ 2.99 đô, "Return to the Dark Valley" của Santiago Gamboa. Nhìn lướt qua phần giới thiệu, thấy bảo Gamboa chịu ảnh hưởng Roberto Bolano. Không đắn đo, tôi nhấp chuột, tải về Kindle và đọc luôn.
Santiago Gamboa, sinh năm 1965, học văn chương tại Bogota, triết ở Tây Ban Nha và văn chương Cuba ở Sorbonne, đã viết đâu đó chừng chục cuốn, và Trở về thung lũng tối là cuốn mới nhất của chàng, cũng là cuốn đầu tiên tôi đọc. Theo một cách nào đó, những chủ đề của Trở về thung lũng tối gần gũi với những cuốn nặng ký nhất của Bolano, 2666 và The Savage Detectives: bạo lực, tình dục, thi ca, và vì chàng là người Colombia, nên truyện của chàng còn có rất nhiều ma túy.
Có nhiều hơn một người kể chuyện (narrator) trong cuốn này: một cô gái bị cha dượng hiếp, tìm cách ra khỏi nhà để vào học ở một trường nữ tu, sa lầy ở đó, rồi sau lại trở thành một thi sĩ; một nhà văn vì một tin nhắn bí hiểm mà bay từ Rome sang Madrid để rồi chứng kiến một vụ khủng bố rồi sa vào một cuộc đánh nhau ngoài đường; một gã tân Nazi tự xưng là con trai Giáo hoàng ấp ủ ước mơ thành lập một nền cộng hòa thanh sạch; một giáo sĩ có quá khứ bạo lực. Và xen vào chuyện của các nhân vật trên là câu chuyện về cuộc đời của nhà thơ thấu thị Arthur Rimbaud. Các nhân vật trên, thoạt đầu như chẳng dính dáng gì tới nhau, về sau dần giao thoa, hội tụ, đương đầu với quá khứ, rồi nhiều người trong số họ cùng nhau trở về Harrar, nơi Rimbaud từng sống vài năm cuối đời.
Cấu trúc truyện phức tạp nhưng mạch lạc, gọn ghẽ. Cách kể chuyện cuốn hút. Văn viết chừng mực, tuy có khá nhiều xen bạo lực, tình dục, nhưng tuyệt nhiên không có những miêu tả gớm ghiếc kiểu Đất mồ côi của Tạ nhà văn. Lẫn vào trong đó là những suy ngẫm về thi ca, về những khủng hoảng của xã hội hiện đại, về nguồn gốc của tội ác. Trên hết, ta nhìn thấy mong muốn quên đi, dàn hòa với quá khứ, tha thứ và mong muốn trở về một nơi chốn thanh thản cho tâm hồn.


Gà đang gáy trưa bên sông

Lần cuối cùng nghe gà đang gáy trưa bên sông là khi nào, tôi không còn nhớ lắm. Nhưng chỉ cần khép hờ mắt lại, tôi sẽ tưởng tượng ra. Phải là một miền quê nào đó yên ắng lắm. Nắng trưa lấp loáng mặt sông. Nóng. Cơ hồ không có ai ngoài đồng, hay trên đường. Mọi hoạt động tạm thời dừng lại. Cả cây cối cũng cơ hồ thiu thiu ngủ. Giữa khung cảnh gần như tuyệt đối yên tĩnh đó, chợt vang lên tiếng một chú gà giở quẻ, làm náo động một thoáng không gian trưa.

***

Cách đây vài tuần, hai chị em tôi đánh xe đưa ba má về quê sau mấy tuần an dưỡng ở Sài Gòn. Những chuyến đi khác, nếu đi cùng sắp nhỏ và sắp to, tôi thường mở những thể loại nhạc sôi động hơn, phù hợp với tuổi hoa niên thời đại phôn khôn, như Imagine Dragons, hoặc Sơn Tùng MTP. Nhưng lần này, để chiều chuộng cái tai của người U90, tôi mở Văn Cao, Phạm Duy, Đoàn Chuẩn – Từ Linh. Chính trong chuyến đi này chúng tôi nghe lại Mùa xuân đầu tiên.

Rồi dặt dìu mùa xuân theo én về
Mùa bình thường mùa vui nay đã về
mùa xuân mơ ước ấy đang đến đầu tiên
Với khói bay trên sông, gà đang gáy trưa bên sông
một trưa nắng cho bao tâm hồn

Bài hát ra đời năm 1976, sau khi kết thúc chiến tranh. Phải không còn tiếng súng, tiếng bom, thì mới có những buổi trưa làng quê yên ắng đến nỗi ta có thể nghe được tiếng “gà đang gáy trưa bên sông.”

Giữa bao tưng bừng của những ca khúc ca ngợi thống nhất thì ít mà chiến thắng thì nhiều, Mùa xuân đầu tiên dìu dặt một mình một cõi. Âm nhạc vẫn có nét vui, nhưng không vui theo kiểu hồ hởi, phấn khởi, mà là cái vui lẫn trong cái ngùi ngùi. Nhạc sĩ vẫn gọi mùa xuân ấy là “mùa vui”, nhưng đồng thời cũng gọi ấy là “mùa bình thường”.  Phải rất lớn, thì mới có thể nhìn nhận mùa xuân đầu tiên sau chiến tranh là điều bình thường, và phải là, nên là “mùa bình thường”, chứ không phải mùa của tự hào hay mùa của quang vinh. Và điều cần làm, nên làm khi ấy là “từ nay người biết yêu người…”. Giai điệu ấy, lời nhạc ấy, tuy đằm thắm, sâu xa, nhưng lạc quẻ, khiến bài hát bị cất đi một thời gian khá lâu.

***

Bây giờ, không cần phải đợi xuân về ta mới nghe hay hát Mùa xuân đầu tiên. Bất cứ lúc nào muốn ta cũng có thể ngâm nga:

Giờ dặt dìu mùa xuân theo én về
Mùa bình thường, mùa vui nay đã về.
Mùa xuân mơ ước ấy xưa có về đâu
với khói bay trên sông, gà đang gáy trưa bên sông
một trưa nắng thôi hôm nay mênh mông.

Điều đáng buồn là, bây giờ tuy không còn bom rơi, đạn nổ, nhưng tiếng gà gáy trưa đã trở nên quá xa xỉ. Thường, buổi trưa, ta chỉ có thể nghe tiếng đục đẽo, tiếng xe rồ máy, hay tiếng karaoke.