Thứ Bảy, 12 tháng 6, 2010

Vừa đi đường, vừa kể chuyện (I)

5.23 sáng 10/6/2010

Tom Hanks là diễn viên yêu thích của vợ tôi. Hình như tất cả phụ nữ Việt Nam chân chính và có xem phim Mỹ đều thích Tom Hanks. Họ nói anh ấy tuy không đẹp trai lắm, nhưng đóng hay và đặc biệt, không lăng nhăng. Hậu quả của việc vợ tôi, một trong số những phụ nữ Việt Nam chân chính, yêu thích Tom Hanks là thỉnh thoảng tôi xem phim có anh. Vì đang ngồi ở sân bay nên tôi nhớ đến phim The Terminal.

Trong The Terminal, Tom Hanks đóng vai một hành khách có quốc tịch một quốc gia X. Khi Tom Hanks vừa đến Mỹ, thì ở quê nhà của anh xảy ra đảo chính, chính phủ cũ bị lật đổ, chính phủ mới lên thay. Chính phủ này không được sự công nhận của quốc tế (i.e. Mỹ), nên hộ chiếu anh cầm không được công nhận. Thế là anh không được vào Mỹ, mà cũng không ra được Mỹ. Ngày này qua ngày khác anh sống tại sân bay, ăn uống, yêu đương, làm việc kiếm tiền ở đấy. Kết thúc phim thế nào tôi không nhớ. Đối với một trí nhớ suy tàn như trí nhớ của tôi nhớ đến đây đã khá lắm rồi. Đại khái anh ta sống ở sân bay khá lâu, lâu lắm, không chết, đến cuối phim vẫn không chết.

Nhưng tôi cá rằng nếu anh ta mắc kẹt ở một sân bay giống cái sân bay mà tôi đang ngồi chờ giờ khởi hành, chắc anh ta sẽ không tồn tại được ba ngày, không, ý tôi nói ba giờ. Anh ta sẽ chán đến chết, chết trước khi thưởng thức những rắc rối và sinh động của một cuộc đời không tổ quốc.

***

Tôi đến sân bay sớm. Hiển nhiên là vì tôi phải bay sớm. 3 giờ sáng, tôi đã phải dậy, sau chỉ 3 tiếng ngủ, vì tối hôm trước phải sửa soạn hành lý và soạn nốt cái hợp đồng dang dở. Phải gửi hợp đồng cho khách trước khi đi, nếu không sếp có thể gõ đầu tôi. Hôn từ biệt hai con chó con đang ngủ say và người phụ nữ Việt Nam chân chính yêu thích Tom Hanks, tôi kéo vali xuống nhà gọi taxi. Đường vắng, chốc lát tôi đã đến sân bay.

Làm thủ tục xong, vẫn còn gần tiếng mới tới giờ bay. Tôi leo lên tầng lầu, định vào một trong những quán cà phê trên đó để uống một chút gì và vào internet. Thế nhưng, tất cả quán hãy còn đóng cửa im ỉm. Lúc đó khoảng 4 giờ rưỡi sáng.

Gần cổng lên máy bay, tôi tìm thấy một quán mở cửa. Lúc tôi phát hiện ra quán, chị bán hàng – khoảng ngoài năm mươi tuổi, mặc đồng phục SASCO – đang đôi co với hai cô khách nước ngoài. Hai cô khách kia có vẻ muốn mua mấy chai nước suối, đang xòe ra mấy tờ tiền Việt Nam. Tôi nghe lóm nội dung là bọn tao còn ngần này tiền Việt Nam. Chị bạn hàng thì cứ lắp đi lặp lại nhõn “one more, one more” – ý là chưa đủ tiền. Hai cô khách bỏ đi. Chị bán hàng cất lại 4 chai nước suối vào tủ.

Tôi gọi một tách cà phê sữa nóng, chị bảo 3 đô. Tôi đưa chị 60.000 đồng, chị cất tất vào ngăn kéo và đưa tôi tách cà phê. Và chỉ thế. Cứ như cà phê vỉa hè, dù giá gấp 10. Không biết làm thế nào để SASCO biết được chị đã bán cho tôi một tách cà phê và đã thu 60.000 đồng

Không có tín hiệu wifi chùa, tôi giở sách ra đọc. Everyman của Philip Roth. Đây là cuốn đầu tiên của Roth tôi đọc. Nhưng, thật khó tập trung khi thỉnh thoảng thông báo của sân bay lại vang lên, ong óng vào tai. Dù sao cũng nghe được một thông tin mới là không được mang cà phê trong hành lý xách tay vì lý do an ninh. Chắc người ta sợ bom làm bằng bột cà phê. Cũng may, nếu cái vali cỡ nhỏ của tôi không bị chuột gặm thì tôi đã dùng nó cho hành lý xách tay và sẽ nhét cà phê trong đó. Chẳng những bị chuột gặm, nó còn gãy càng, thế là tôi chỉ mang một cái ba lô nho nhỏ theo người, còn cà phê và sách cho những người ở bển tôi cho vào hành lý kỷ gửi cả.

Không internet, đọc sách không xong, không muốn dùng iPod, tôi gõ những dòng này giết thời giờ.

Thứ Ba, 8 tháng 6, 2010

Hoàng Cao Khải - nhà thơ


Hoàng Cao Khải, đương thời bị coi là theo Tây, gần đây bắt đầu được "đánh giá lại". Tác phẩm của ông, như cuốn Việt sử yếu, đã được in lại, và có thể thấy nhiều ở Đinh Lễ (Hà Nội) hay Nhà sách Hà Nội (Sài Gòn):)

Ít ai biết ông còn có làm thơ. Có tác giả còn đánh giá Hoàng Cao Khải, cùng với một người nữa là hai đại biểu thơ của giai đoạn 1913 - 1920. Người kia thì tên tuổi lẫy lừng, nói ra ai cũng biết: Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu.

Tác phẩm thơ của Hoàng Cao Khải được nhắc đến trong mấy cuốn văn học sử là tập Vịnh Nam Sử, nghe tên thì đoán là thơ ngâm vịnh về sử nước Nam:), chứ còn văn bản thơ ông thì chưa nhìn thấy bao giờ!


Thứ Hai, 7 tháng 6, 2010

Du hành trong chốn thư phòng

Cái tít ở trên tôi tạm dịch từ Travels in the Scriptorium của Paul Auster mà ra. Tôi vừa đọc xong hôm nay, dự định ghi lại vài phát hiện thú vị khi đọc cuốn này. Tuy nhiên, đó là chuyện tôi sẽ làm khi hai bạn Alpha và Pi ngủ say đã. Còn bây giờ, trong khi chờ đợi hai bạn ngủ yên, tôi sẽ post vài dòng này lên câu view (học chiêu của bác Giò Trắng):), đồng thời đọc Chúa Ruồi (Lord of the Flies) của William Golding qua bản dịch của Lê Chu Cầu. Các bạn lưu ý đi, đây là một cuốn nên có trong tủ sách của bạn (dĩ nhiên nếu bạn có một cái).

--------

Một thú vị hiển nhiên khi đọc một nhà văn đang sống, so với một nhà văn đã chết rồi, là một khi mình đã thích họ, mình còn niềm vui sướng được chờ đợi và đọc những tác phẩm mới nhất của họ. Tập thể những người chờ đợi tác phẩm của một nhà văn, tuy không ồn ào náo nhiệt, nhưng cũng có thể gọi là fan. Travels in the Scriptorium xuất bản 2007 không phải là tác phẩm mới nhất của Paul Auster, sau cuốn này ông đã kịp in Man in the DarkInvisible, cũng không phải là tác phẩm hay nhất của ông, nhưng đích thực là một cuốn sách dành cho fan của ông: nó có quá nhiều tham chiếu tới những cuốn tiểu thuyết trước đó của ông, mà nếu chưa đọc những cuốn đó, sự thích thú khi đọc Travels in the Scriptorium sẽ khác đi. Khác đi chứ chưa chắc đã giảm, vì biết đâu người chưa đọc Auster sẽ nhìn thấy trong cuốn này những điều mà người quen thuộc với Auster không nhận thấy, nhất là khi Auster luôn có tài bịa chuyện.

Những tham chiếu dễ nhận ra nhất là các nhân vật: hầu hết (nếu không phải tất cả) nhân vật trong Travels in the Scriptorium đều đã xuất hiện trong các tiểu thuyết trước của Auster. Nhân vật chính, Mr Blank, người tỉnh dậy thấy mình nằm trong một căn phòng lạ với một tá khung ảnh, một chồng hồ sơ, mọi đồ vật trong phòng đều có dán tên, hoàn toàn không biết mình là ai và không nhớ gì về quá khứ, có thể là nhân vật duy nhất chưa từng xuất hiện trong các tiểu thuyết khác. Tuy nhiên, nếu coi Paul Auster là một nhân vật thì Mr Blank, như sau này ta sẽ nhận ra, mang bóng dáng của chính Paul Auster. Nhân vật xuất hiện thứ hai, Anna, người sẽ cho Mr Blank ăn, tắm cho Mr Blank (and give him a hand job!), và được coi là cùng phe với Mr Blank, chính là nhân vật chính của In the Country of Last Things. Người chồng đã chết của Anna, David Zimmer, lại còn xuất hiện đến trong hai cuốn tiểu thuyết khác nhau: trong Moon Palace với vai cậu bạn của Marco Fogg, và trong The Book of Illusions với vai người chồng mất cả vợ và hai con trong một tai nạn máy bay. Ta còn có thể nhận ra Peter Stillman, người ra lệnh cho Mr Blank phải mặc đồ toàn trắng, đã xuất hiện trong City of GlassThe Locked Room; Sophie, người mang thức ăn đến cho Mr Blank thay cho Anna, chính là vợ của Fanshawe – anh chàng tự khóa trái mình trong The Locked Room. Fanshawe cũng được nhắc đến trong cuốn này, cũng với tư cách là chồng Sophie và là tác giả một tập sách có tên… Travels in the Scriptorium, Travels in the Scriptorium lại còn là tên một bộ phim được nhắc tới trong The Book of Illusions. Ta còn tưởng ta có thể gặp cả Marco Fogg – chàng trai tự hành xác mình trong Moon Palace – nhưng không, ta chỉ gặp Daniel Quinn – nhà văn mà Peter Stillman nhầm với Paul Auster trong City of Glass – xuất hiện trong cuốn này với tư cách luật sư của Mr Blank.

(tối mai viết tiếp chớ bây giờ phải đi ngủ::)))

--------

(Nhờ sự chỉ điểm của Giò Trắng, tôi đã tìm ra Anna Bloom hay Blume trong Moon Palace. Trong cuốn này, cô là bạn gái mất tích của David Zimmer. Trước đó, trong In the Country of Last Things, Auster đã gửi cô đến một đất nước xa xôi để đi tìm người anh trai William và đẩy cô vào tình trạng cực cùng tuyệt vọng. Vì cái thói hay đày đọa nhân vật của mình mà Auster – trong hình dáng của Mr Blannk - có thể sẽ phải trả giá, như ta sẽ thấy trong Travels in the Scriptorium. Auster viết Moon Palace năm 1989, hai năm sau khi hoàn thành In the Country of Last Things. Như vậy ngay từ hồi đó Auster đã có thói quen cho nhân vật xuất hiện liên văn bản.)

Khó nhận thấy hơn là những tham chiếu về tình tiết. Trước khi viết Travels in the Scriptorium, Auster đã viết 12 tiểu thuyết trong vòng 20 năm. Rất khó để biết Auster tham chiếu tình tiết nào trong cuốn nào và nhằm mục đích gì. Trong City of Glass, Peter Stillman mặc đồ toàn trắng, trắng đến nỗi có cảm giác như anh ta vô hình. Ở đây, Mr Blank được Anna mặc cho đồ cũng toàn trắng theo lệnh của Peter Stillman. Peter Stillman trả đũa Mr Blank – Auster chăng? Trả đũa như thế còn nhẹ, vì còn có nhân vật khác, James P Flood, lại một nhân vật trong The New York Trilogy, còn mang dao theo người, định dụ Mr Blank ra công viên và xử đẹp. Tôi không nhớ ra Auster đã làm gì James P Flood, nhưng tôi nhớ rõ Auster đã cho Benjamin Sachs nổ tung ngay đầu cuốn Leviathan. Chính vì thế, giữa vô số lời buộc tội Mr Blank trong cuốn này, Quinn – luật sư của Mr Blank – đã nói nếu có thể bào chữa cho Mr Blank khỏi cáo buộc này (cáo buộc làm nổ tung Benjamin Sachs), thì sẽ có tiền lệ để bào chữa các cáo buộc khác.

Chủ đề quen thuộc trong các tiểu thuyết của Auster là căn cước (identitity) và việc viết lách (writing/authorship). Cả hai chủ đề này xuất hiện trở lại trong Travels in the Scriptorium. Bằng việc cho hàng lọat các nhân vật cũ xuất hiện trở lại, có vẻ như Auster muốn làm một cuộc tự truy vấn rốt ráo về trách nhiệm của nhà văn đối với các nhân vật của mình bởi vì, như Auster viết trong trang cuối của cuốn tiểu thuyết này, các nhân vật tuy là sản phẩm của trí tưởng tượng, nhưng một khi đã được ném vào thế giới, tức khi đã được kể, thì sống một cuộc đời dai dẳng ngay khi các nhân vật đã chết rồi. Dĩ nhiên ta cũng có thể hiểu Auster muốn gián tiếp nhắc đến trách nhiệm của nhà văn đối với thế giới. (Auster thường xuyên kể những câu chuyện-trong-chuyện, và một trong những câu chuyện được kể trong cuốn này là chuyện một cuộc thảm sát không rõ thủ phạm lại bị bóp méo trong một báo cáo quân sự thành một cuộc thảm sát xác định rõ thủ phạm – tác giả bản báo cáo sau đó tự nổ súng vào đầu.)

Tuy nhiên, cũng có thể tôi hiểu sai Auster hoàn toàn, và biết đâu việc hiểu sai của tôi – một độc giả - mới là chủ đích của Auster, người luôn kể những câu chuyện không chắc chắn, mơ hồ, và đầy bí ẩn như chính thế giới của chúng ta.

PS. Khi đọc xong cuốn này, lạ thay, tôi nhớ đến tác phẩm của một nhà văn Việt Nam – truyện ngắn Bút máu của Vũ Hạnh. Liên tưởng của tôi có thể khập khiễng, nhưng nếu bạn chưa đọc Bút máu thì chẳng có lý do gì bây giờ bạn lại không đọc cả. Bạn sẽ thấy thông điệp trong truyện của Vũ Hạnh rõ ràng gấp mười lần truyện của Auster:)

PS2: Tôi rất mong một số cuốn khác của Auster sẽ được dịch ra tiếng Việt. Ngoài Leviathan mà tôi biết bác Giò Trắng đang dịch, tôi còn mong thấy bản tiếng Việt của ít ra là The Book of Illusions, Oracle NightThe Brooklyn Follies. Bạn nào mê phim ảnh rất nên đọc The Book of Illusions.


Thứ Năm, 3 tháng 6, 2010

Mưa đầu mùa


Tôi vác ba lô ra khỏi văn phòng khi chiều đã muộn. Vừa đi vừa cắm mặt xuống đất nên khỏi cửa tôi mới nhận thấy: trời đang mưa. Đã từ lâu rồi, rất nhiều ngày rồi, tôi mới lại gặp mưa khi đi làm về. Mưa, thường tôi không khoái lắm, tôi vốn không ưa những thứ ướt át, từ vật cho đến người. Chẳng hạn, tuy mê văn, nhưng tôi chúa ghét người học văn, đặc biệt con gái học văn – những người mà tôi hay gọi đùa là lãng mạn nửa mùa, sến một mùa, lơ mơ lãng đãng như những người chết trôi [không] đẹp nhất trần gian. Dĩ nhiên, cũng có ngoại lệ:). À, mà thôi, tôi đang nói về mưa.

Người xưa có câu gì mà như nắng hạn gặp mưa rào thật đúng. Hai ba tháng qua trời nắng rát mặt nóng chảy mỡ, nay có mưa, dịu mát, thật là khoái.

Ngờ đâu, vui chẳng tày gang. Chưa kịp tận hưởng cảm giác mát mẻ cơn mưa mang lại, tôi đã sa vào một đám kẹt xe ê chề. Xe tải, xe con, nối đuôi nhau dằng dặc, tràn hết các làn đường, đầu chiếc này cách đít chiếc kia vài xăng-ti-mét. Tôi rút điện thoại ra nhắn tin cho người thân, nhắn đã rồi vào internet, chán chê mà xe chẳng nhúc nhích được mấy. Cái quãng đường hơn chục cây số trên con đường được gọi là xa lộ huyết mạch đấy, rốt cuộc lấy mất của tôi hơn hai tiếng đồng hồ.

Kẹt xe tệ hại như hôm nay là ngoại lệ. Khi không ngoại lệ thì kẹt đỡ tệ hại hơn tí. Nghĩa là thay vì hai tiếng cho 10 cây số, thì “chỉ” một tiếng hay bốn mươi lăm phút thôi. Các ngã tư, ngã ba trên con đường này, xe lưu thông nhiều, lại không có cầu vượt hay hầm chui, nên chỉ cần một sự cố nho nhỏ là ùn tắc, kẹt cứng. Mà sự cố ngày nào cũng xảy ra, không ngoại lệ mới chết chứ.

Ngồi trên xe, chân mỏi nhừ vì đạp thắng, mông ê ẩm vì ngồi một chỗ quá lâu, và bụng đói meo (may còn chưa đau bụng hay mắc tè), chẳng còn trò gì khác để tiêu khiển ngoài việc … chửi thề. Những lúc bực mình vớ va vớ vẩn tôi hay chửi thề bằng tiếng Anh, có khi bằng tiếng Lào hay tiếng Ý (nhưng tuyệt nhiên không xài tiếng Đan Mạch), còn những lúc bi đát như thế này, tôi chửi bằng tiếng Việt hẳn hòi, cho có tinh thần yêu nước. Phải yêu nước lắm mới chửi thề bằng tiếng mẹ đẻ được, Kundera bảo thế:).

Trong cơn yêu nước, tôi chợt nhớ ra dự toán cho dự án đường sắt cao tốc Bắc Nam lên đến hơn 50 tỷ đô. Nếu như chỉ lấy một phần rất nhỏ số tiền ấy đầu tư xây mấy cầu vượt hầm chui trên con đường tôi đi làm về thì có phải đỡ khổ cho tôi không. Và nếu dành một phần (phần bao nhiêu tôi không biết, nhưng chắc không cần toàn bộ) số tiền ấy để xây dựng một hệ thống đường bộ cao tốc cho tử tế thì người dân có phải được nhờ nhiều hơn không. Lúc đấy, bất kỳ người dân nào của thành phố mang tên Bác, sau 20 giờ ngồi trên một chiếc xe buýt Bắc Nam chạy suốt, cũng có thể ra thăm lăng Bác và thấy trong sương hàng tre bát ngát (nhân tiện ăn bún ốc Hồ Tây hay kem Tràng Tiền).

Còn đường sắt, chỉ mong cái con tàu Việt Nam đi suốt bốn mùa vui đấy sạch sẽ hơn một tí, không còn rải phân từ Bắc chí Nam suốt bốn mùa vui đã tốt lắm rồi. Chứ nhỡ cao tốc mà mỗi khi vào ga lại yêu cầu quý khách không sử dụng phòng vệ sinh thì kẹt lắm.

Ai dà, mưa đã tạnh và tôi đã về nhà. Một kỷ lục mới được thiết lập: 2 giờ 45 phút đi từ công ty về nhà, phá rất sâu kỷ lục trước đây 2 giờ 5 phút.

------------

Trong khi đang pageview đang xuống, nhờ có nữ sĩ TTT để link mà fan của cô lũ lượt kéo sang. Xin đa tạ:)

Thứ Ba, 1 tháng 6, 2010

Hướng dẫn sử dụng trước khi dùng (II)



Ghi trên một cây cầu vừa mới xây: Đi nhẹ, nói khẽ, cười duyên.

Ghi trên hầm vượt sông: Cấm cá lòng tong bơi vào làn dành riêng cho cá tra.

Ghi trên ngọn cổ thụ trong thành phố: Dành riêng để mơ giấc mơ của những vòm cây.

Ghi trên tiếng chim hót buổi sáng: Đừng hót, dưới ấy đã có ná.

Ghi trên một cuốn từ điển: Nếu quý vị cần tìm tính từ, xin vui lòng tra cứu cuốn bên cạnh.

Ghi trên dàn đồng ca: Biết rồi, khổ lắm, hát mãi.

Ghi trên đoàn tàu cao tốc: Vui lòng không sử dụng nhà vệ sinh khi tàu vào ga.

Ghi trên laptop của một sử gia: Những thứ đã lưu vào ổ cứng không bao giờ có thể xóa hoàn toàn. Những thứ không lưu vào ổ cứng vẫn sẽ được ghi nhớ ở nơi khác.

Ghi trên một dự án khu vui chơi giải trí 1 tỷ đô: Khi ta ở chỉ là nơi đất ở/ Khi ta đi đất cỏ mọc um tùm*.

Ghi trên mảnh sành: Nhẹ tay, hàng dễ vỡ.

Ghi trên một tờ báo: Báo rách phải giữ lấy lề.

Ghi trên trái sầu riêng: Thích hợp để ăn trong phòng lạnh, nên giữ vỏ lại để tuyên truyền chống HIV-AIDS.

Ghi trên một cái lưỡi: Món này không dùng kèm với răng, có thể hợp tương cà nhưng tuyệt đối kỵ ớt.

Ghi trên bao cao su đã qua sử dụng: Đọc kỹ hướng dẫn sử dụng trước khi dùng.



* Thơ Chế Lan Viên: Khi ta ở cũng là nơi đất ở/ Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn