Thứ Ba, 23 tháng 2, 2010

Hà Nội thêm một lần tôi đến (III)

***

Mua hoa và đi taxi

Trước Tết, có một sáng tôi phóng xe ra đường đi mua hoa. Tôi vốn luôn thích ngắm những hàng hoa bên vệ đường Hà Nội, nhất là vào những hôm trời lạnh, khi những chị những cô bán hàng khăn áo co ro còn hoa thì tươi hơn bao giờ hết. Đã bao lần tôi tự nhủ phải đi mua hoa ở Hà Nội, thế mà chưa bao giờ làm được điều đó, mãi cho đến lần này.

Tôi phóng xe ra con phố gần nhà mà tôi nhớ có nhiều hàng hoa từng nhìn thấy mỗi khi đi ngang. Tôi không có ý định rõ rệt phải mua hoa gì, và dưới hình thức nào – cành hay lẵng, chỉ định bụng thấy cái gì vừa mắt sẽ đem về. Thế nhưng ghé hai ba hàng liên tục, chưa trông thấy cái gì ưng ý. Chị bán hàng gợi ý thích thế nào thì chị cắm cho, nhưng hỏi có mẫu không thì chẳng có. Chị hùng hồn khẳng định tất cả những mẫu đẹp nhất đều đã được bày ra rồi. Trông chị có vẻ không vui khi tôi bỏ sang hàng kế tiếp. Cuối cùng, tôi quyết định mua một bó hồng thẫm ở hàng thứ tư. Hoa ở hàng này không có gì đặc biệt so với mấy hàng kia, nhưng chị bán hàng có vẻ dịu dàng hơn, không kiểu hoa đây là nhất. Chị nhận ra tôi nói giọng miền Nam, nhưng có vẻ không vì thế mà chị tính đắt hơn. Hoặc cũng có thể chị có tính đắt hơn mà tôi không biết vì tôi thấy giá cũng hợp lý.

Tôi từng có kinh nghiệm về việc trả phụ thu cho giọng miền Nam khi mua sắm ăn uống ở Hà Nội. Năm 2000, tôi và một cậu bạn lần đầu du lịch Hà Nội đã hơn một lần trả tiền cho một bát bún ngan gấp ba lần giá thường – dĩ nhiên chúng tôi chỉ phát hiện ra điều đó sau khi kể lại với những người bạn thủ đô. Còn lần này, có bác tài taxi đã cho tôi đánh vòng hơn hai cây số trong khi nếu đi đúng đường bác chỉ cần quay đầu xe. Nhưng kể cũng không sao, vì Hà Nội đi đâu cũng gần, vả lại Tết nhứt ai cũng muốn kiếm thêm một chút. Nhân nói về taxi, tôi thấy các bác tài taxi Hà Nội cởi mở hơn các bác tài taxi Sài Gòn. Ở Sài Gòn, tài xế taxi thường chỉ hỏi khách đi đâu là lặng lẽ chở đến đấy. Còn ở Hà Nội, tài xế taxi hay nói chuyện với khách, và rất nhiều khi nhiệt tình tham gia câu chuyện của khách không cần phải mời mọc. Vì thế lên taxi nói gì cũng nên cẩn thận.

***

Kem caramen và bia 10 giờ sáng

Cái ngày mà tôi đi mua hoa là ngày Hà Nội còn ấm và chúng tôi còn đang than vãn về đồng đồ rét chưa sử dụng được trong khi quần áo mùa hè thì thiếu. Nhưng trời ấm, cũng tiện việc cho trẻ con đi chơi. Hai bạn Alpha và Pi được ba mẹ cho ra Bờ Hồ chạy tung tăng. Ai ra Hà Nội mà không ra Bờ Hồ?

Chạy chơi chán, hai bạn được dẫn vào Bodega để ăn kem caramen. Ở Sài Gòn, kem caramen được gọi là kem hay bánh flan, làm biếng bật hơi thì kêu là “bánh lăng” cũng được. Kem caramen và bánh flan chỉ là một ví dụ nhỏ trong vô vàn ví dụ về sự khác nhau về từ vựng giữa Sài Gòn và Hà Nội. Có lần tôi nhắc đến chuyện này trong Từ điển Bắc – Nam. Người Sài Gòn ra Hà Nội hay ngược lại, nếu muốn giao tiếp được trôi chảy rất nên chỉnh lại từ vựng cho phù hợp với địa phương. Hiện tượng này trong ngôn ngữ học hình như gọi là code switching – chuyển mã. Ngày nay, nhờ đi lại dễ dàng và truyền hình phủ sóng toàn quốc, giọng Nam giọng Bắc không còn là vấn đề lớn. Tuy nhiên, sự khác biệt về từ vựng giữa hai miền đôi khi vẫn làm kinh ngạc những người giàu kinh nghiệm nhất.

Bodega là quán nằm trên đường Tràng Tiền, một con đường rất trung tâm Hà Nội. Nếu ra việc đi thuê một mặt bằng như thế hẳn phải rất đắt, chắc không thua gì Đồng Khởi ở Sài Gòn. Tuy nhiên, quán Bodega chắc chắn là quán quốc doanh. Chỉ có ở quán quốc doanh thì cà phê sữa nóng, à quên nâu nóng, mới có giá tám ngàn, và kem caramen dù khá ngon lại được đựng trọng hộp nhựa và cứ thế mang thẳng ra cho khách khiến bố bạn Pi cứ tưởng kem caramen mua siêu thị; và cũng chỉ quán quốc doanh mặt tiền mới được sử dụng phung phí thế và trang trí mới nhôm nhoam đến thế. Thành phố một nghìn năm tuổi mỗi địa danh một di tích lịch sử thì những vết đen đen trên sàn quán áng chừng cũng ba mươi năm chứ không ít hơn. Điểm sáng của quán này là cái bể cá - ở đó có đèn nhấp nháy. Bạn Pi rất mê cá nên cứ lôi ba sềnh sệch đứng cạnh. May sao lúc sau bạn Alpha cũng chạy ra xem. Bố bạn Pi mưu trí đánh lừa cho hai con đứng nắm tay nhau – thay vì nắm tay ba – xem cá, còn mình trở về bàn uống nâu nóng và nhìn sang bàn bên, nơi một nhóm đàn ông và đàn bà tuổi hòm hòm mặc đồng phục một công ty lớn đang uống bia Hà Nội. Dù hôm đó trời chưa lạnh nhưng đối với tôi uống bia vào lúc 10 giờ sáng của một ngày làm việc thật là một ý tưởng bất khả.

***

Thứ Hai, 22 tháng 2, 2010

Hà Nội thêm một lần tôi đến (II)


***

Gà, cà phê chiều 30 Tết và còi

Đã lâu mới lại nghe tiếng gà gáy, không phải một mà nhiều con gáy cùng lúc. Cái giống gà, đúng là tức nhau tiếng gáy, đã nghe con này gáy thì con kia không chịu nhịn, cứ thi nhau óng ả váng cả đầu. Khu này vợ bảo ngày xưa nhiều cây cỏ nhiều vườn nhiều rau, bây giờ nhà cửa mọc lên san sát, cái này cụng đầu cái kia, nhà này 4 tầng thì nhà kia cũng không kém. Ngày xưa đường làng mát vì bóng cây thì bây giờ mát vì bóng nhà. Có những chỗ hai nhà đối diện các tầng trên đều xây lấn ra con đường chỉ vừa hai xe máy tránh nhau, từ ban công nhà này cơ hồ có thể bước chân sang ban công nhà bên kia đường, và mưa nắng cũng vất vả mới len qua được khe hở giữa hai nhà. Ngõ nhỏ phố nhỏ, nhà tôi ở đó…Nhà sát nhau thế, nên tiếng gà gáy sáng nghe thật là chát chúa, muốn dậy muộn cũng không xong.

Nhưng đấy chuyện là những ngày giáp Tết, khi Hà Nội còn nóng không thua gì Sài Gòn. Kể từ 29 Tết, trời đột ngột trở lạnh. Nằm cuộn mình trong chăn bông, bất chấp sự thô bạo của lũ gà cũng như Đàm Vĩnh Hưng, Tuấn Vũ và có trời mà biết là những âm thanh văn minh nào khác vọng sang từ các giàn âm thanh hàng xóm, giai cấp tiểu tư sản kiên quyết không ra khỏi giường trước 10 giờ sáng.

Hà Nội chiều 30 Tết đường phố rộng tênh. Giờ đấy, chắc chỉ những gã rỗi việc hoặc trốn việc mới phóng ra đường uống cà phê. Phố Triệu Việt Vương thi thoảng có vài chiếc lá rụng. Bạn bảo đấy là lá bàng. Ba thằng ngồi đố nhau có nhà văn nào chỉ viết truyện ngắn mà thành danh. Nghĩ mãi chỉ ra được Chekhov, Lỗ Tấn và Guy de Maupassant. Raymond Carver được chiếu cố. Thomas Mann có viết tiểu thuyết không nhỉ?

Cà phê xong, phóng xe về. Gió buốt hai tai và hai tay, nhưng đường vắng nên chạy rất sướng. Không có ai để chen chúc. Gần như không có tiếng còi xe. Ra Hà Nội đợt này, tôi có cảm giác tiếng còi xe Hà Nội hình như to hơn. Hoặc cũng có thể tiếng còi xe vẫn thế, chỉ có cảm giác của tôi là khác. Nói chung, cảm giác của tôi không đáng tin cậy mấy. Chẳng hạn, có dạo, tôi có cảm giác tất cả những cái bấm móng tay ở nhà tôi càng ngày càng nhỏ đi và do đó khó tìm hơn, trong khi cả nhà khẳng định kích thước của những cái bấm móng tay hoàn toàn không thay đổi.

Thật ra, tôi hoàn toàn ổn nếu có một đạo luật quy định rằng tất cả xe cộ không được trang bị còi. Tôi cho rằng chẳng có lý do gì phải bấm còi khi đi xe cả. Đường vắng, rộng thênh thì chả việc gì phải bấm còi. Còn đường đông, bấm còi chẳng giải quyết được vấn đề gì: không có đường để lách đi đâu, bấm còi chẳng khác gì bấm cho nhau nghe. Thế mà có những người, cứ năm hay mười mét lại bấm còi tin tin. Bấm chỉ còn như một thói quen (Ref Hoàng Hưng: Sống chỉ còn như một thói quen). Đôi khi tôi băn khoăn thói quen bấm còi lúc chạy xe có ảnh hưởng thế nào đến những hành vi khác của một con người. Chẳng hạn, khi làm tình, những người đó có nhu cầu bấm còi không? Và còi không kêu thì họ xoay xở thế nào?
***

Thứ Năm, 11 tháng 2, 2010

Hà Nội thêm một lần tôi đến (I)

Hà Nội những ngày giáp Tết, trong khi các giai cấp cần lao vẫn làm việc như điên, hoặc ít ra tỏ vẻ làm việc như điên, thì giai cấp tiểu tư sản sáng ngủ bảnh mắt, cà phê ăn sáng đủng đỉnh, rồi check mail, facebook xem có độ nào, không có độ nào thì nhắn tin gợi ý, nói chung cả ngày ăn ngủ rồi ăn chơi rất chi phè phỡn, thậm chí còn không định bờ lốc bờ liếc nỗi gì, cho vacation nó trọn con bà nó vẹn. Thế nhưng, sáng nay chuột kêu tích tắc, đọc bài mất tên mất bóng của bạn gái này, nên đang lơ mơ bỗng vùng dậy, bật laptop gõ ngay một bài.

Mùi

Đây không phải là lần đầu tiên tôi ăn Tết Hà Nội, càng không phải lần đầu tiên ra Hà Nội. Lần đầu tiên tôi ra Hà Nội đã ngót mười năm, trở về từ chuyến đi ấy có một mùi tôi mãi không quên. Mùi là một thứ identity của con người cũng như thành phố. Identity của cô gái mũm mĩm trong Xứ sở diệu kỳ tàn bạo của Murakami là mùi dưa bở. Identity của vợ Mai An Tiêm là mùi dưa hấu. Identity của Thị Nở hẳn là dưa cải. Identity của Phan Thiết là mùi nước mắm. Identity của Bangkok là mùi xả máy lạnh. Còn identity của Hà Nội hẳn là mùi than tổ ong. Mười năm trước tôi không biết đấy là than tổ ong, chỉ biết trưa nắng đi ngang một số hàng quán thì hơi váng vất. Mười năm sau tôi biết chắc đấy là than tổ ong. Identity không dễ nhạt phai.

(tí cho con ăn xong viết tiếp)

[Con ăn xong rồi. Đã tống được hai bạn vào giường ngủ. Cụ thân sinh gái của hai bạn thì đi rong. Chẳng có ai quấy rầy. May ra viết xong cái entry này]

Sân bay

Hà Nội, Hà Nội, Tết này lại ra Hà Nội. Muốn ra Hà Nội vào dịp Tết không phải dễ dàng gì, vé phải đặt trước từ ba tháng. Tết là dịp đoàn tụ gia đình, là dịp về quê, ai cũng có quê, không quê này thì quê kia. Gần Tết, mọi người ùn ùn đổ về quê, để rồi sau tết lại ùn ùn trở về. Từ Sài Gòn, đường về đồng bằng Cửu Long qua cửa ngõ miền Tây, về Tây Nguyên và miền Trung qua cửa ngõ miền Đông tắc đã đành, cớ gì tàu xe ra thủ đô cũng gian nan?

Hôm ra sân bay, cả nhà thức dậy khi trời nhờ nhờ sáng. 10 giờ 30 máy bay mới cất cánh, nhưng từ 7 giờ rưỡi cả nhà đã nai nịt gọn gàng đồ đạc nghiêm chỉnh Mai Linh Taxi chính hướng Tân Sơn Nhất khởi hành. Nhà trời cảnh báo từ mấy hôm trước Tết nhứt hành khách nên làm thủ tục trước hai tiếng rưỡi. Cộng vào đó, ra sân bay nghĩa là vượt năm bảy ải lô cốt, nhà có trẻ con cứ đi thật sớm cho chắc ăn. Kỳ diệu thay, ơn Đảng, ơn Chính phủ, những ngày giáp Tết lô cốt được dỡ đi, nên đường thông thoáng đến lạ kỳ, chẳng mấy chốc cả nhà đã đến được sân bay. Đọc tin ở đây, không thể không nhớ đến ông huấn luyện viên Wenger của Arsenal. Ông này thuộc loại trùm keo kiệt. Trong khi các đội bóng khác vung tiền mua cầu thủ, thì ông ky bo chắt bóp. Người ta mong chờ ông mua thêm cầu thủ, ông chỉ ngồi chờ các cầu thủ bị chấn thương quay lại, và ví những trường hợp đó như những bản hợp đồng mới. Khác gì giao thông Sài Gòn, quanh năm sừng sững lô cốt, đến gần Tết dỡ lô cốt ra lòng ai mà không náo nức hân hoan. Cứ lấy đi những thứ có sẵn, lấy đi những thứ lẽ ra người ta tự nhiên phải có, tự nhiên phải được hưởng, rồi khi những thứ của chính mình được trả về, người ta mừng vui kém gì Tết trẻ con được sắm quần áo mới đâu.

Check-in xong, hãy còn tiếng rưỡi mới tới giờ cất cánh. Cả nhà vào hàng phở ở sân bay để ăn sáng. Có nhõn một hàng, nên không vào đấy cũng chả biết vào đâu. Một tô phở ở đây có cái giá thần thoại là 52.000 đồng, lượng bằng nửa tô phở 24, chất thì khó mà đánh giá, vị hồi vị quế chỉ hơi nhang nhác, mà vị monopoly lại cứ ngất ngây. Nên nhớ một tô phở vào loại đắt như phở 24 cũng chỉ có giá 38.000 đồng. Dễ hiểu tại sao ở đây những chuỗi nhà hàng như Phở 24, Highlands Coffee, KFC hay Lotteria khó đặt chân vào. Nếu những tên tuổi kia có mặt, lấy ai nộp mạng cho phở monopoly?

Giải quyết xong đầu vào, lại tính chuyện đầu ra. Cần phải đảm bảo thanh niên 28 tháng tuổi như bạn Pi không làm mất mặt bố mẹ nơi công cộng. Lùa được một chàng trai hiếu động như bạn Pi vào toa-nét không phải là việc dễ dàng gì. Chàng có thể chạy, có thể đứng ì, đôi khi cứ chỉ vào một cái vỏ kẹo dưới sàn mà hỏi: Bạn nào hư thế?

Dĩ nhiên, tôi đã vào khu vệ sinh của terminal quốc tế Tân Sơn Nhất nhiều lần. Bên đấy thì sạch sẽ. Hẳn là vì bộ mặt quốc gia nên được lau dọn cẩn thận hơn. Còn bên này, terminal nội địa, không được như vậy. Những tấm gương trong nhà vệ sinh đều xỉn đen, bẩn, nước tung tóe quanh bồn rửa tay, trên sàn nhà; còn bồn cầu, để ghé mông vào là phải vượt qua cả một trời ngần ngại. Xà bông rửa tay thì nhấn mãi không ra. Hay người ta nghĩ rằng khách tuyến nội địa thì không cần sạch sẽ lắm, đằng nào cũng người trong một nước mà? Dẫu sao, toa-nét ở đây vẫn còn có giấy! Tôi nhớ có lần đưa cậu em họ ra sân bay thì nổi cơn đau bụng, thế là phải chạy bán sống bán chết vào toa-nét ở sảnh đưa đón chỉ để phát hiện ra là toa-nét không có giấy. Nén sự bứt rứt, quay trở ra, thời may tôi tóm được một chị quét dọn vệ sinh, chị chỉ giấy ở ngoài này. Hóa ra, chỉ có một cuộn giấy treo gần cửa ra vào cho 5 cái toa-nét. Nếu như chủ quan, cứ chui vào toa-nét ngồi, xong rồi mới quờ tay lấy giấy thì coi như sự đã rồi. Lúc đó, chỉ còn nước mong tay mình tự động dài ra như tên ăn trộm nhẫn trong phim Huyền thoại về nàng công chúa Arabella mới có thể vươn tay ra ngoài cửa toa-nét, bò thêm mấy mét đến chỗ treo giấy.

Thứ Năm, 4 tháng 2, 2010

Important announcement/Thông báo quan trọng



I'm more than willing to receive birthday gifts from today. Don't worry about storage costs, which I will take care of. Deadline is February 11th. Late gifts shall be considered on a case by case basis.

Tôi rất sẵn lòng nhận quà sinh nhật kể từ ngày hôm nay. Bạn không phải lo lắng về chi phí lưu kho, tôi sẽ lo vụ đó. Thời hạn cuối cùng là ngày 11 tháng 2. Đối với những món quà đến muộn, tôi sẽ xem xét tùy từng trường hợp.

Je suis plus que disposé à recevoir des cadeaux d'anniversaire à partir d'aujourd'hui. Ne vous préoccupez pas de frais de stockage, que je vais prendre soin. La date limite est Février 11e.Cadeaux de retard seront examinées au cas par cas.

Ich bin mehr als bereit, Geburtstagsgeschenke von heute erhalten. Don't worry about Lagerkosten, die ich von zu betreuen wird. Einsendeschluss ist der 11. Februar. Kurzfristige Geschenke werden von Fall zu Fall geprüft werden.

我更願意接受從今天生日禮物。不要擔心存儲成本,我會照顧。截止日期是2月11日。逾期禮品應被視為對每宗案件的基礎。

Я более чем готов получать подарки на день рождения сегодня. Не беспокойтесь о стоимости хранения, которую я буду заботиться. Сроком является 11 февраля. Поздно подарки будет рассматриваться на индивидуальной основе.

Thứ Năm, 28 tháng 1, 2010

Tuổi trẻ băn khoăn (III)

***

“Analysis destroys wholes. Some things, magic things, are meant to stay whole. If you look at their pieces, they go away”.

Robert James Waller

(The bridges of Madison County)

Nhiều năm trước đây, tôi cũng từng đọc Những cây cầu ở quận Madison, bản tiếng Việt. Tôi cũng từng xem phim này. Tôi biết nhiều người thích cả truyện và phim, nhưng tôi không nằm trong số nhiều người đó. Phim, tôi không nhớ gì, chắc là không ấn tượng. Truyện, tôi thấy khô không khốc, văn như văn của học trò, không rõ do người dịch hay do tác giả. Tôi không mang theo cuốn này, nên tôi không thể mở ra và đọc lại xem ấn tượng của tôi có gì thay đổi không. Biết đâu, bây giờ, khi đã già hơn một chút, tôi sẽ thấy chuyện tình già ở quận Madison kia rung động hơn, lãng mạn hơn, sâu sắc hơn. Biết đâu, có khi tôi còn thấy lòng xôn xao, còn chớp chớp mi, còn nhỏ một giọt nước mắt. Hoặc hai. Dù thế nào đi nữa, tôi cũng cảm thấy khó nghĩ khi Demian có thể tìm thấy được điều gì tâm đắc trong cuốn sách và chép lại. Mà cái câu kia, đứng một mình nó, có vẻ cũng thấm thía ra phết đấy chứ. “Phân tích làm hỏng tổng thể. Có những thứ, những thứ huyền diệu, phải được nhìn trong tổng thể. Nếu bạn cứ săm soi từng phần của nó, nó chả còn gì.”

Không nhớ trong truyện, câu này đứng ở chỗ nào, và có ví dụ nào minh họa. Thường trước hay sau một câu tổng quát thế này, thế nào cũng có ví dụ. Ví dụ có thể như thế này: Có những gương mặt, nếu nhìn từng phần ta chỉ thấy tóc hơi cháy nắng, tai hơi vểnh, mũi hơi khoằm, mắt hơi gian, răng hơi đen, nhưng cứ tích phân như thế ta sẽ làm hỏng tổng thể khuôn mặt. Nếu lùi lại một bước, hai hoặc ba bước càng tốt, và ngắm lại khuôn mặt ấy từ xa, có khi ta lại thấy khuôn mặt ấy trông… cũng được.

***

Mỗi lần tôi sắp xếp lại một kệ sách hay một hộc tủ trong nhà, việc lẽ ra chỉ cần khoảng nửa giờ thì tôi mất đứt nguyên buổi sáng hoặc có khi trọn ngày. Tôi không kiềm chế được việc ngắm nghía những đồ vật trong hộc tủ, nghĩ đến việc từng có nó như thế nào, nó làm tôi vui hay buồn, hả hê hay giận dữ, bây giờ nên giữ lại hay vứt đi, hay xếp vào một chỗ nào khác.

Làm phiền tôi hơn cả là những tấm thiệp. Tôi đọc lại những lời chúc trên đó – bản thân việc này mất kha khá thời gian – và sau khi đọc xong thì lâm vào tình trạng tiến thoái lưỡng nan: tôi không nỡ vứt chúng đi, mà giữ lại – làm sao có thế giữ lại được tất cả những tấm thiệp đã nhận được trong đời. Tương tự, là những bức thư tay. Tôi từng có khá nhiều thư tay, chủ yếu là thư của bạn bè cả thân lẫn chưa biết mặt - tất nhiên đấy là thư từ cái thời chưa có email và internet, và điện thoại chưa phổ biến như bây giờ. Thư tình cũng có vài cái; nhưng thư tình thì tôi không đọc lại, nhất là những thể loại thư sướt mướt.

Mất thời gian hơn cả là việc xếp sách. Khi sắp sách lên kệ lần đầu, tôi thường cố ghép chúng vào một trật tự nào đó: văn học Việt Nan, văn học nước ngoài, trinh thám, ngôn ngữ, lịch sử, kinh tế, chính trị, luật v.v. Nhưng sau một thời gian, cái trật tự kia bị phá vỡ, nên thỉnh thoảng tôi phải xếp lại. Phải đưa tất cả các Hemingway lại gần nhau và đảm bảo đứng gần ông là Steinbeck, đưa Dos lại gần Lev Tolstoi và Ivan Bunin, đẩy Tạ Duy Anh ra phía Nguyễn Huy Thiệp, và sách nấu ăn thì không thể chung hàng với sách kinh tế, đại để như thế. Nhưng nếu chỉ xếp thôi, thì cũng không mất quá nhiều thời gian. Lẽ nào cầm sách lên mà không lật vài trang, và nhỡ gặp chuyện gì thú vị, thì làm sao có thể dừng lại sau vài trang.

Riêng đám sách của Demian là một ngoại lệ: chúng chỉ tạm trú trên kệ sách nhà tôi, nên tôi cho phép chúng đứng gần nhau, lộn xộn trong phạm vi cho phép. Kể ra, đám sách ấy cũng làm xấu kệ sách tôi một chút: phần lớn trong đó là sách cũ, giấy đen, có cuốn long cả bìa.

Demian, cái cuốn sổ của cậu ta, tôi vẫn đang chép lại đây, nhưng tôi quyết định không chép từ đầu đến cuối nữa. Bất kỳ lúc nào tôi rảnh, tôi sẽ mở một trang bất chợt. Tôi đang thử xem mình sẽ mở trúng trang nào.

Cũng nói thêm, khi viết những dòng này, tôi không còn ở nới cái resort biển ấy nữa. Tôi chỉ ở đấy có hai ngày, mà từ hôm đấy đến nay đã hơn hai tuần còn gì. Đúng như dự đoán, chuyến đi đó, tôi không thể nào nhúng chân được xuống biển. Ôi biển, hẹn sẽ quay trở lại để tắm táp phơi nắng thỏa thuê, chứ không phải để chui vào những phòng họp lạnh ngắt đầy mùi nấm mốc.

***

“Cậu bé bẽn lẽn, nhút nhát như con gái, nghịch ngầm và ưa sạch sẽ ngày xưa đã biến thành một người lầm lì, khinh đời, biết đủ thứ trên đời và dễ nổi quạu. Một người rất thông minh, can đảm, trầm lặng và ưa giễu cợt”.

(Bác sĩ Zhivago)

Bác sĩ Zhivago (tiếng Nga: Доктор Живаго, từ Живаго có nghĩa đen là "cuộc sống") là tiểu thuyết nổi tiếng của nhà văn Nga–Xô viết Boris Leonidovich Pasternak (1890–1960).

Nhân vật chính của truyện là Yuri Zhivago, một bác sĩ y học và nhà thơ. Truyện kể cuộc đời của bác sĩ Zhivago qua những éo le tình ái của ông cùng hai phụ nữ trong bối cảnh chung quanh cuộc cách mạng Nganăm 1917.

Truyện này được dựng thành phim năm 1965, do David Lean đạo diễn, tài tử chính là Omar Sharif và Julie Christie.

Bối cảnh truyện Bác sĩ Zhivago nằm vào khoảng 1910 - 1920, nhưng Pasternak hoàn tất vào khoảng 1956. Vì ông có vấn đề với chính phủ Xô viết lúc bấy giờ nên truyện này không được xuất bản. Năm 1957 bản thảo của truyện được tuồn ra ngoài Liên Xô và in ra sách tiếng Nga tại Ý (nhà xuất bàn Feltrinelli). Năm sau có ấn bản tiếng Ý và tiếng Anh. Pasternak nhờ đó mà được đề nghị nhận giải Nobel văn chương năm1958, nhưng chính quyền Xô viết bấy giờ ép ông phải từ chối nhận giải thưởng này. Mãi đến 1988, sách truyện Bác sĩ Zhivago mới được cho in và xuất bản tại Nga.

Khởi đầu truyện là phần giới thiệu Yuri Andreievich Zhivago lúc 10 tuổi đi đám tang của mẹ. Sau đó Yuri học y khoa, bắt đầu làm thơ, rồi cưới vợ tên là Tonya. Truyện sau đó giới thiệu Larisa Fyodorovna (Lara) ởtuổi dậy thì, sống với bà mẹ góa phụ khi bà này làm công cho chủ hãng may tên Komarovsky. Komarovsky dụ dỗ và hiếp dâm Lara. Trong cơn tủi nhục cuồng nộ, nàng lấy súng bắn Komarovsky tại một buổi tiệcgiáng sinh nhưng không may lại bắn trúng một người khác. Nàng sau đó kết hôn người tình đầu của mình là Pavel Pavlovich (Pasha).

Kế đến truyện dẫn vào thời kỳ chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Yuri tòng quân với tư cách bác sĩ quân y. Pasha rời vợ và con gái (Tanya) theo quân đội và bị mất tích. Lara tình nguyện làm y tá với hy vọng tìm kiếm tông tích chồng. Khi Yuri vào thăm vợ khi nàng sanh đứa con trai đầu lòng thì gặp cô y tá Lara. Hai người có ý thầm yêu nhau nhưng không dám tỏ lời. Vào lúc này phong trào cách mạng bắt đầu nổi dậy tại Petersburg.

Chiến tranh bùng nổ khắp nơi, Yuri và Lara được bổ nhiệm công tác chung tại một nhà thương ở tỉnh nhỏ xa xôi. Yuri bị thôi thúc bởi những cảm tình cho Lara. Chàng tâm sự với Tonya và Tonya nghi ngờ rằng Yuri cùng Lara đã ngoại tình. Mùa đông đến, đời sống trở nên chật vật vì thiếu thức ăn và dịch lỵ lan tràn. Sau cuộc chiến, Yuri trở về chức vị bác sĩ cũ tại nhà thương ở Moskva. Vì cá tính lãng mạng chàng thường bị các đồng nghiệp bolshevik bài bác là thiếu logic và tinh thần cách mạng. Giữa các cuộc xung đột chống chủ nghĩa Marx nổ ra, Yuri cùng gia đình dời về Urals. Trên xe lửa của chuyến đi này, Yuri nhận thức được nỗi khổ của nông dân và tù binh, những nạn nhân của cuộc chiến cách mạng. Chàng yêu chuộng tự do và bình quyền, nhưng bất mãn với những hành động hay ý kiến quá cứng rắn và thiếu tình người của những người theo cách mạng.

Tại Urals, Yuri cùng gia đình khai đất làm ruộng. Chàng trở lại sở nguyện làm thơ. Tại thư viện làng, chàng gặp lại Lara. Hai người ngoại tình và cùng sống cuộc đời vụng trộm yêu đương tột đỉnh. Lara lúc bấy giờ biết Pasha còn sống và hiện là một tay trùm Đỏ khét tiếng với tên mới Strelnikov. Yuri muốn trở vế với vợ để thú tội ngoại tình nhưng không may bị một nhóm quân cách mạng bắt cóc và phải phục vụ như bác sĩ của nhóm này. Sau vài năm, Yuri trốn thoát và trở lại với Lara. Để tránh không bị điềm chỉ, cặp tình nhân bỏ trốn sang một nông trại khi xưa gia đình Yuri từng canh tác. Yuri tiếp tục làm thơ - bày tỏ tâm sự của chàng về những thăng trầm của đời sống, những lo sợ và lòng can đảm trong chiến tranh và hơn hết là tình yêu dành cho Lara. Trong khi đó có tin vợ Yuri là Tonya và con gái chàng bị bắt đuổi ra khỏi Nga. Chẳng bao lâu sau đó, Komarovsky, kẻ đã từng hãm hiếp Lara khi xưa, xuất hiện. Hắn hăm dọa rằng quân cách mạng đang truy lùng Yuri và Lara và sẽ giết cả hai nếu bắt dược. Hắn hứa giúp đưa Yuri và Lara trốn ra nước ngoài. Yuri đắn đo một hồi lâu và kết cuộc vì vấn đề an toàn cho Lara, chàng quyết định để Lara ra đi một mình. Yuri ở lại Nga và bắt đầu say sưa uống rượu giải sầu.

Strelnikov, chồng của Lara lúc bấy giờ đang chạy trốn vì bị chính phủ cách mạng truy lùng. Y tìm ra Yuri và sau khi biết chuyện Lara ngoại tình, bèn tự sát.

Yuri trở lại Moskva và sinh sống cùng một phụ nữ tên Marina và kiếm sống bằng cách viết sách. Em của chàng tìm cho chàng một chức vụ bác sĩ nhưng trên đường đi làm, chàng bị đứng tim mà chết. Lara, từ Irkutsk lên Moskva và tình cờ đi tới nhà liệm thấy xác Yuri còn nằm đó. Sau đó vài ngày, nàng mất tích, có người cho rằng nàng bị bắt đi trại tập trung cải tạo.

Đoạn trong ngoặc kép phía trên là đoạn tôi chép lại từ sổ tay của Demian, người đã chép đoạn đó tất nhiên từ cuốn Bác sĩ Zhivago; còn đoạn chữ màu xanh tôi chép từ Wiki. Nếu bạn đã đọc Bác sĩ Zhivago rồi, bạn có thế bỏ qua đoạn đó, còn nếu chưa, hoặc đọc rồi nhưng đã quên sạch như tôi, thì đoạn tư liệu từ Wiki có thể giúp bạn hình dung hoặc nhớ lại đôi nét về cuốn sách.

Cuốn này, tôi đọc trên một chuyến tàu Bắc Nam cách đây mười năm. Đi tàu là thời gian thích hợp để đọc những cuốn nhiều chữ như cuốn này. Thú thật, tôi đã quên hoàn toàn nội dung cuốn sách, đó là lý do tôi phải nhờ đến Wiki. Điều tôi chắc chắn là, với một câu chuyện như thế, nếu muốn chép lại đôi đoạn trong cuốn sách, hẳn phải có nhiều đoạn hay để chép, mà cái câu trên kia chẳng có vẻ gì hay lắm. Nó không có dáng vẻ triết lý như nhiều đoạn khác mà Demian chép trong sổ, cũng không phải là những đoạn văn bay bổng hoặc đau thắt, chi tiết hay hài hước, thông thái hay gợi dục, gợi mở hay dâng trào. Bằng cái trí nhớ suy tàn của tôi, tôi không nhớ cậu bé được nhắc đến trong đoạn văn kia là cậu bé nào, tôi chỉ đoán, và khá tin vào cái sự đoán của mình, cậu bé ấy chính là Demian, hay nói cách khác, Demian thấy mình được miêu tả bằng câu văn ấy. Đấy, những ghi chép trong một cuốn số tay mà chép nhiều hơn ghi cũng có thể cho ta biết về tính cách của một con người. Tôi biết Demian hiện giờ cũng gần giống những gì được tả trong đoạn văn kia: thông minh, trầm lặng, và ưa giễu cợt. Can đảm thì không chắc lắm, vì tôi biết cậu ta sợ ngỗng. Tôi đang hình dung ra một câu bé Demian lúc chín mười tuổi: bẽn lẽn, nhút nhát như con gái, sạch sẽ và nghịch ngầm. Lúc đó chắc mặt Demian chưa nhiều tàn nhang như bây giờ.